Cung cấp bởi  
Thứ Năm, 13/03/2008 - 5:12 PM  

Bộ Công Thương sau một năm hội nhập và hướng tới tương lai

Ông Trần Đức Minh - Nguyên Thứ trưởng Bộ Thương mại

Tại “Diễn đàn Thương Mại - Đầu tư Việt Nam sau một năm gia nhập WTO”, do Bộ Công Thương kết hợp với một số bộ, ngành tổ chức vào sáng 11/01/2008, Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm nhấn mạnh: “Việc gia nhập WTO là sự kiện có ý nghĩa quan trọng đối với Việt Nam, là cột mốc đánh dấu sự hội nhập sâu rộng của đất nước chúng ta vào nền kinh tế toàn cầu…”, trong đó, Phó Thủ tướng cũng nhấn mạnh sự đóng góp to lớn của các ngành quan trọng như Công nghiệp – Thương mại và dịch vụ. Dưới đây là ý kiến của đại diện doanh nghiệp, hiệp hội và nhà quản lý thuộc Bộ Công Thương về kết quả đã đạt được trong năm 2007, định hướng phát triển trong năm 2008 và các năm tiếp theo.

 

 

ÔNG TRẦN ĐỨC MINH - NGUYÊN THỨ TRƯỞNG BỘ THƯƠNG MẠI:

Cần kết hợp Công - Thương để tăng cường hơn nữa công nghiệp, vì sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế.

Năm 2007 là năm đầu tiên Việt Nam gia nhập WTO, với những kết quả đạt được tương đối khả quan: Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 8,5%, là mức tăng cao nhất kể từ 10 năm trở lại đây. Tổng giá trị lưu chuyển hàng hoá ngoại thương đạt trên 109 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 50 tỷ, tăng gần 9 tỷ so với năm 2006. Tuy nhiên, chỉ số tăng giá tiêu dùng trong nước cũng ở mức phi mã (hơn 12,6%), là tốc độ tăng cao nhất trong 11 năm nay nay. Nhập siêu cũng chưa bao giờ cao đến mức 35%, gấp 2 lần so với năm trước, nhất là hàng tiêu dùng. Điều này cho thấy, cùng với việc sử dụng công cụ thuế còn hạn chế, thì sự kết hợp giữa công nghiệp và thương mại cũng còn chưa thoả đáng. Vai trò của thương mại trong sản xuất, như can thiệp, điều tiết, xúc tiến thương mại còn chưa tốt. Ví dụ điển hình ở một số doanh nghiệp cơ khí mà tôi có dịp được biết, họ tự lo mua nguyên vật liệu, rồi lại tự tìm kiếm thị trường để bán hàng. Trong khi đó, vấn đề hậu WTO, doanh nghiệp của chúng ta phải “vật” cũng rất khó khăn với doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam. Vì vậy, chúng ta cần gắn sản xuất với thị trường tiêu thụ, tăng cường hơn nữa vai trò của xúc tiến thương mại, tiếp tục đàm phán để mở ra các thị trường, tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển. Bên cạnh đó, phải có cơ chế cho các tập đoàn liên kết với nhau, tạo sức mạnh cạnh tranh tốt hơn.

ÔNG VÕ SỸ DỞNG – TỔNG GIÁM ĐỐC TỔNG CÔNG TY GIẤY VIỆT NAM:

Ngành Giấy đang đổi mới trên nhiều phương diện và đặt ra nhiều mục tiêu có tính chiến lược để không ngừng phát triển đi lên.

Năm 2007 là năm hoạt động thành công của Tổng công ty Giấy Việt Nam, với doanh thu đạt 4.000 tỷ đồng, lợi nhuận đạt 102 tỷ đồng. Năm 2008 đang mở ra triển vọng mới cho Tổng công ty Giấy Việt Nam, với doanh thu ước đạt 4.182 tỷ đồng, lợi nhuận ước đạt 120 tỷ đồng. Để thực hiện thành công mục tiêu đã đặt ra, chúng tôi đang có nhiều biện pháp đổi mới trên nhiều phương diện và đặt ra nhiều mục tiêu có tính chiến lược để đưa ngành Giấy không ngừng đi lên. Thứ nhất là, đầu tư trên mọi lĩnh vực nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Ngoài các chỉ tiêu về SXKD đã đặt ra, trong năm 2008, Tổng công ty cũng đang triển khai dự án trồng rừng nguyên liệu giấy ước đạt 7.223ha, tăng 108% so với kế hoạch năm 2007. Ngoài ra, còn có các dự án đầu tư cơ bản như dự án Nhà máy Giấy và Bột giấy Thanh Hoá, dự án mở rộng Công ty Giấy Bãi Bằng giai đoạn II với công suất 250.000 tấn/năm. Sau khi các dự án này được đi vào hoạt động, chúng ta sẽ có một khu công nghiệp giấy hiện đại, không những cung cấp đủ cho thị trường trong nước, mà còn xuất khẩu ra nhiều nước trên thế giới.

Thứ hai là, gắn kết các công ty con và các công ty liên kết trong Tổng công ty với nhau thành một khối, tạo thành sức mạnh đoàn kết, nhất trí. Xu thế hội nhập và xu thế toàn cầu hoá trên thế giới sẽ mang đến cho mọi doanh nghiệp Việt Nam nhiều cơ hội và thách thức. Vì vậy, những thành tựu mà Tổng công ty Giấy đạt được sẽ là hành trang vô cùng cần thiết để ngành Giấy tiếp tục vượt qua mọi thử thách của cơ chế thị trường, vươn tới những mục tiêu xa hơn.

 

ÔNG PHẠM CHÍ CƯỜNG, CHỦ TỊCH HIỆP HỘI THÉP VIỆT NAM:

Ngành Thép cần sản xuất phôi thép để chủ động thị trường.

Trong năm 2007, ngành Thép có nhiều biến động, đặc biệt là sự nóng - lạnh của thị trường Thép. Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự biến động của thị trường thép chính là do chúng ta chưa chủ động được nguồn phôi, 70% phôi đều phải nhập từ Trung Quốc. Muốn vậy, ngành Thép phải mở rộng sản xuất, tăng nguồn cung, thu hút các dự án đầu tư. Nhưng việc thu hút nhiều dự án đầu tư lớn từ nước ngoài cũng cần phải xem xét và thẩm định kĩ càng, để tránh biến Việt Nam thành kho phế thải của thế giới, khi các nước đổ vào đây công nghệ lạc hậu và ô nhiễm.

Khó khăn của các nhà sản xuất Thép hiện nay là đang bị cấm nhập thép phế. Chúng tôi mong muốn Bộ Tài nguyên Môi trường và Bộ Công Thương hãy nới rộng các tiêu chuẩn môi trường, tạo cơ hội cho các nhà sản xuất trong nước được nhập thép phế, giảm giá thành sản xuất phôi nội. Có như vậy ngành Thép Việt Nam mới chủ động được thị trường, không bị phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu từ Trung Quốc, có như vậy, ngành Thép mới có đủ thế và lực để hội nhập sâu hơn.

ÔNG VŨ QUỐC TUẤN – CHỦ TỊCH HIỆP HỘI LÀNG NGHỀ VIỆT NAM:

Vì cạnh tranh trong nước và thế giới, rất nhiều vấn đề cấp bách đang đặt ra cho các làng nghề.

Đó là việc cải cách thủ tục hành chính đã được Chính phủ đưa ra thực hiện như một khâu đột phá, thể hiện sự quyết tâm cao, nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho doanh nghiệp, đặc biệt trong thời kỳ hội nhập. Bởi lẽ, đa số các doanh nghiệp trong làng nghề đã có khả năng vươn lên làm ăn hiệu quả, nhưng lại đang phải đối mặt với sự cạnh tranh của các đối tác nước ngoài, với những thủ tục rườm rà, phức tạp trong nước đặt ra.

Thứ hai là, vấn đề vốn. Thực tế cho thấy, nơi nào được chính quyền địa phương quan tâm, được tập trung kinh phí hỗ trợ, thì nơi ấy, các làng nghề và nghề truyền thống có điều kiện phát triển. Có điều, việc sử dụng kinh phí còn phân tán, nên không tránh khỏi lãng phí, thất thoát và kém hiệu quả, trong khi Quỹ Bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ được đề ra từ n ăm 1993, nhưng đến nay mới có được 4 địa phương xây dựng được quỹ này.

Thứ ba là, vấn đề nguồn nhân lực, trong đó có nghệ nhân. “Nghệ nhân là báu vật nhân văn sống” (UNESCO), nên cần phải trân trọng và bồi dưỡng nghệ nhân, để từ đó, có được những người thợ giỏi làm nên các sản phẩm thủ công mỹ nghệ thể hiện được nét đẹp tinh hoa và bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam với bạn bè thế giới. Từ bàn tay các nghệ nhân, thợ giỏi, những sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Việt Nam đã và luôn được khách hàng nước ngoài yêu thích, có được thế mạnh cạnh tranh và thu được nhiều ngoại tệ từ các nước trên thế giới.

 

 

Nhóm PV
CNTT số tháng 1+2/2008 (trang 16)

  Bản in

Quay về Diễn đàn >>

Các bài mới:

Các bài đã đăng:

Truyền hình công nghiệp
Thông tin tài khoản