PV: Xin ông cho biết đôi nét về tình hình ứng dụng và kinh doanh thương mại điện tử (TMĐT) của các oanh nghiệp Việt Nam hiện nay?
Ông Dương Hoàng Minh: Theo điều tra hàng năm của Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin - Bộ Công Thương, tình hình ứng dụng, kinh doanh TMĐT của các doanh nghiệp Việt Nam đang ngày càng đi vào chiều sâu và bước đầu gặt hái những thành công. Kết quả điều tra năm 2007 cho thấy, trên một phần ba doanh nghiệp có doanh thu mức 15% trở lên so với tổng doanh thu nhờ các đơn đặt hàng qua phương tiện điện tử. Nếu so sánh tỷ lệ này với tỷ lệ 8% của năm 2005 thì có thể thấy rõ, các doanh nghiệp đã thực sự quan tâm tới TMĐT và đã biết cách biến những lợi ích tiềm tàng của nó thành hiện thực. Tín hiệu lạc quan nhất là có tới 63% doanh nghiệp tin tưởng rằng, doanh thu có được từ các đơn đặt hàng sử dụng phương tiện điện tử sẽ tiếp tục tăng.
Có được kết quả trên là nhờ những động thái tích cực từ việc đầu tư cho TMĐT. Trước tiên là chi phí đầu tư cho TMĐT tăng mạnh. Năm 2007, có tới 50% số doanh nghiệp tham gia điều tra cho biết đã dành trên 5% tổng chi phí hoạt động để đầu tư cho TMĐT (tăng gấp ba lần so với năm 2005). Thêm vào đó, cơ cấu đầu tư trở nên hợp lý hơn với khoảng 1/2 chi phí dành cho phần cứng và 1/5 dành cho đào tạo. Điều này cho thấy, đã có sự chuyển biến mạnh mẽ từ nhận thức tới triển khai TMĐT trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, tỷ lệ đầu tư cho phần mềm và giải pháp hầu như không thay đổi trong 3 năm qua và chỉ dừng ở mức 23%. Rõ ràng, cần phải có sự nỗ lực rất lớn từ nhiều phía để nâng cao tỷ lệ này. Một trong những thước đo định lượng về đầu tư cho TMĐT là tỷ lệ các doanh nghiệp xây dựng và vận hành website tăng đều qua các năm và đạt tới 38% trong năm 2007, tức là cứ 10 doanh nghiệp tham gia điều tra thì có tới 4 doanh nghiệp có website. Đồng thời, trong năm 2007, đã có 10% doanh nghiệp tham gia các sàn giao dịch TMĐT (e-marketplace), 82% có mạng cục bộ (LAN) và đáng lưu ý nhất là có tới 97% doanh nghiệp đã kết nối Internet với hình thức kết nối chủ yếu là ADSL.
PV: Cổng Thương mại điện tử quốc gia (ECVN) đã ra đời và hoạt động được một thời gian và là một trang thông tin được các nhà quản lý và doanh nghiệp đánh giá rất cao. Ông có thể đánh giá những tác động của nó tới hoạt động thương mại của các doanh nghiệp?
Ông Dương Hoàng Minh: Cổng Thương mại điện tử quốc gia (ECVN), được thành lập theo Quyết định số 266/2003/QĐ-TTg ngày 17/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ, do Bộ Công Thương chủ trì, hoạt động tại địa chỉ www.ecvn.com. Mục đích thành lập ECVN là giúp các doanh nghiệp nhanh chóng làm quen và tham gia vào phương thức kinh doanh TMĐT doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B), qua đó nâng cao sức cạnh tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế. ECVN chính thức đi vào hoạt động từ ngày 26/8/2005. Hiểu một cách đơn giản, ECVN là sàn giao dịch điện tử giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B), là một không gian trực tuyến trên Internet, nơi mà người mua và người bán có thể tiến hành giao tiếp, hợp tác và kinh doanh với nhau. ECVN phục vụ cho hàng ngàn doanh nghiệp tham gia với tư cách thành viên. ECVN tạo ra nơi gặp gỡ, với các chức năng cho phép thành viên hực hiện một cách hiệu quả nhiều chu trình kinh doanh trên môi trường mạng. ECVN cũng là nơi để giúp các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, bước đầu trải nghiệm những ứng dụng của TMĐT vào hoạt động sản xuất, kinh doanh. Bên cạnh đó, ECVN còn giúp doanh nghiệp tìm kiếm được bạn hàng, đối tác tin cậy, uy tín, thông qua các cơ chế thẩm định độ uy tín trong kinh doanh của các doanh nghiệp này. Nếu doanh nghiệp là người mua hàng, ECVN giúp doanh nghiệp tìm kiếm, so sánh, lựa chọn được nhà cung cấp tốt nhất với nhu cầu của mình trong hàng ngàn nhà cung cấp luôn được cập nhật liên tục; tự động hóa quy trình mua hàng; rút ngắn thời gian mua hàng; tìm hiểu kỹ càng mọi thông tin về hàng hóa và dịch vụ trước khi ra quyết định mua hàng. Ngược lại, khi doanh nghiệp là người bán hàng, ECVN sẽ mở ra một kênh bán hàng mới cho doanh nghiệp; giúp doanh nghiệp giảm chi phí tìm kiếm khách hàng, chi phí marketing; nâng cao dịch vụ chăm sóc khách hàng; liên lạc, đàm phán với khách hàng nhanh chóng, thuận tiện. Chính vì những lợi ích kể trên, trong vòng hơn 2 năm hoạt động, đến nay, ECVN đã có trên 5.000 doanh nghiệp thành viên với khoảng 12.000 cơ hội kinh doanh. Theo một điều tra mẫu với 202 thành viên ECVN trong năm 2007, đã có 236 hợp đồng được ký kết thông qua ECVN với tổng giá trị đạt trên 50 tỷ đồng. Thông qua hoạt động tại ECVN, các doanh nghiệp cũng đã tìm kiếm được 4.998 đối tác mới.
PV: Những năm qua, Bộ Công Thương và các tổ chức hữu quan đã triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến và đào tạo như thế nào để giúp nâng cao hiểu biết của doanh nghiệp và xã hội về lợi ích của TMĐT?
Ông Dương Hoàng Minh: Hoạt động tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức về TMĐT bắt đầu trở nên sôi động trong vòng 3 năm trở lại đây, với sự tham gia tích cực của cơ quan quản lý nhà nước về TMĐT và các tổ chức hữu quan, các phương tiện thông tin đại chúng. Bên cạnh một số báo, tạp chí chuyên ngành công nghệ thông tin,
nhiều tờ báo lớn đã có hẳn chuyên trang về công nghệ thông tin và TMĐT. Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam và Truyền hình kỹ thuật số đều xây dựng các chuyên mục về ứng dụng tin học trong cuộc sống và kinh doanh. Nhiều sự kiện lớn về TMĐT đã được Bộ Công Thương và các đơn vị khác tổ chức và tuyên truyền trên các kênh thông tin đại chúng như Diễn đàn TMĐT Việt Nam 2007 (Vebiz), Hội thảo quốc tế về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong TMĐT, Chương trình đánh giá xếp hạng website TMĐT uy tín (TrustVn), Chương trình sinh viên với TMĐT, Bình chọn và trao giải thưởng cúp vàng về TMĐT của Hội Tin học Việt Nam (VAIP) và Hiệp hội Doanh nghiệp phần mềm Việt Nam (Vinasa).
Về đào tạo nguồn nhân lực chuyên nghiệp cho TMĐT, nhiều trường đại học trên cả nước đã thành lập bộ môn TMĐT, có trường đã thành lập khoa TMĐT. Tính tới cuối năm 2006, 75% các trường đại học kinh tế - thương mại ở miền Bắc có môn học về TMĐT với ít nhất 3 học phần. Một số trường đã mở chương trình đào tạo cao học về TMĐT. Tuy nhiên, năng lực của giảng viên và chất lượng giáo trình cho TMĐT vẫn là những hạn chế mà các trường hiện nay đang phải đối mặt khi triển khai đưa TMĐT vào chương trình đào tạo chính khoá. Về tập huấn ngắn hạn, nhiều trường đại học và các tổ chức đã tích cực triển khai các khoá tập huấn TMĐT kéo dài trong phạm vi một tuần. Bộ Công Thương đi tiên phong trong việc tổ chức các khoá tập huấn TMĐT cho cán bộ quản lý nhà nước về kinh tế - thương mại ở hầu hết các tỉnh và thành phố trên cả nước. Trong khuôn khổ Đề án hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ hội nhập và phát triển giai đoạn 2005-2010, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cũng tích cực tổ chức hội thảo, tập huấn về TMĐT cho đối tượng là doanh nghiệp ở nhiều địa phương. Ngoài ra, các công ty kinh doanh TMĐT là lực lượng năng động, góp phần không nhỏ cho việc đào tạo và phổ biến kiến thức về TMĐT đến người tiêu dùng cũng như các đối tác tiềm năng.
PV: Việc tạo lập môi trường pháp lý đóng vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy TMĐT phát triển. Đề nghị ông giới thiệu một cách tổng quan về việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về TMĐT của nước ta.
Ông Dương Hoàng Minh: Với việc ban hành một loạt các văn bản hướng dẫn Luật Giao dịch điện tử 2005 và Luật Công nghệ thông tin 2006, có thể nói, môi trường pháp lý cho TMĐT đến nay đã tương đối hoàn thiện. Tiếp theo Nghị định về TMĐT ban hành vào tháng 6/2006, trong năm 2007, Chính phủ đã ban hành các nghị định thi hành Luật Giao dịch điện tử và một số nghị định thi hành Luật Công nghệ thông tin như: Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử về Chữ ký số và Dịch vụ chứng thực chữ ký số, Nghị định về Giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính, Nghị định về Giao dịch điện tử trong hoạt động ngân hàng, Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực công nghệ thông tin và Nghị định về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước. Gần đây nhất, ngày 16/01/2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, trong đó có quy định chi tiết về xử phạt những hành vi vi phạm liên quan tới chứng từ điện tử trong hoạt động thương mại. Nhiều văn bản chuyên ngành cũng đã được ban hành. Chẳng hạn, trong lĩnh vực ngân hàng là các Quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về Quy chế cấp phát, quản lý và sử dụng chữ ký số và chứng thực chữ ký điện tử trong ngành ngân hàng; Quy trình cấp phát, quản lý và sử dụng chứng chỉ số của Ngân hàng Nhà nước; Quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng; Thông tư sửa đổi Thông tư số 09/2003/TT-NHNN hướng dẫn thực hiện một số quy định tại Nghị định số 55/2001/NĐ-CP cho phù hợp với Luật Giao dịch điện tử và các nghị định hướng dẫn thi hành. Thủ tướng Chính phủ cũng ban hành Quyết định về việc trả lương qua tài khoản cho các đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Trong lĩnh vực tài chính và hải quan, Bộ Tài chính và Tổng cục Hải quan đã ban hành các Quyết định Quy định về thí điểm thủ tục hải quan điện tử, Quy trình thủ tục hải quan điện tử, Quy chế áp dụng quản lý rủi ro trong thí điểm thủ tục hải quan điện tử, Quy chế công nhận tổ chức cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng trong hoạt động hải quan. Đồng thời, nhằm tháo gỡ những trở ngại liên quan tới chứng từ điện tử trong hoạt động bán vé máy bay điện tử, Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 18/2007/QĐ-BTC về việc in, phát hành, sử dụng và quản lý vé máy bay điện tử. Trong lĩnh vực thương mại là Quyết định số 018/2007/QĐ-BTM về việc ban hành Quy chế cấp chứng nhận xuất xứ điện tử.
PV: Xin cảm ơn ông!