Làm gì để hàng năm Việt Nam có thêm hàng trăm, chứ không phải hàng chục kỹ sư được công nhận đạt chuẩn ASEAN? Những thách thức và cơ hội nào đang đợi họ vượt qua chiếm lĩnh? Đây là những câu hỏi lớn được các Giáo sư, những kỹ sư đã từng được nhận giải chia sẻ tại hội thảo “Thách thức và cơ hội trong đào tạo kỹ sư” diễn ra vào trung tuần tháng 6/2008 tại Hà Nội.
Kỹ sư Việt Nam cần phải chuyên nghiệp hơn
Tiến sĩ Phạm Văn Tân, phó Tổng thư ký Liên Hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, kiêm phó Chủ tịch hội đồng đăng bạ kỹ sư chuyên nghiệp cho biết: Trong những năm qua mặc dù đông đảo đội ngũ kỹ sư hành nghề chuyên nghiệp đã có đóng góp to lớn vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nhất là những thành tựu khoa học công nghệ được áp dụng trong lĩnh vực y tế, Nông nghiệp, bưu chính viễn thông, xây dựng, năng lượng, nhưng hàng năm tỷ lệ các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học Việt Nam được đăng trên Tạp chí nổi tiếng của quốc tế chỉ vẻn vẹn chiếm 0,02%. Trong khi đó, tỷ lệ này ở Thái Lan gấp 5,5 lần (0.11%) và ở Singapore là 0,25%. Bên cạnh đó theo số liệu điều tra, nghiên cứu của hội đồng đăng bạ kỹ sư Việt Nam, chỉ có 20% kỹ sư làm công tác tư vấn, chủ trì thiết kế, giám đốc dự án, chủ trì dự án mà thôi.
Từ thực tế đó ông Tân có đưa ra giải pháp “cần nâng cao tính chuyên nghiệp của người kỹ sư” và coi đó là một đòi hỏi tất yếu khách quan phù hợp với quá trình phân công lao động xã hội. Chuyên nghiệp hóa đòi hỏi người cán bộ kỹ thuật phải luôn không ngừng phấn đấu học tập, cập nhập những thông tin, kiến thức, hoàn thiện những kỹ năng hành nghề từ đó có thể đáp ứng yêu cầu có khả năng cung cấp các dịch vụ tốt nhất cho xã hội. Việc phân loại kỹ sư và công nhận kỹ sư chuyên nghiệp đã có từ lâu và đã trở thành thông lệ quốc tế, nó đảm bảo sự tự do hành nghề. Dịch vụ kỹ sư chuyên nghiệp có tính cạnh tranh cao, phản ánh những giá trị đích thực của người kỹ sư chuyên nghiệp. Kỹ sư chuyên nghiệp là sự công nhận của hội nghề nghiệp và được xã hội công nhận tôn vinh.
Việc lựa chọn kỹ sư chuyên nghiệp còn dựa trên các tiêu chí chặc chẽ về trình độ nghề nghiệp chuyên môn, về đạo đức hành nghề, quy trình công nhận nghiêm túc, không mang tính thương mại hóa, do các hội nghề nghiệp thực hiện. tại Nhật Bản chỉ có 1% kỹ sư được công nhận là kỹ sư chuyên nghiệp. Đạt được chứng chỉ kỹ sư chuyên nghiệp APEC phải hoàn thành một chương trình kỹ thuật được công nhận, có ít nhất 7 năm hành nghề liên tục, có ít nhất 2 năm chịu trách nhiệm những công việc quan trọng. Còn đối với kỹ sư chuyên nghiệp ASEAN yêu cầu tối thiểu phải có bằng kỹ sư, tính chuyên nghiệp cao và cũng phải có ít nhất 7 năm hành nghề liên tục.
Môi trường là yếu tố quan trọng nhất
Theo kỹ sư Phạm Anh Tuấn, người được nhận chứng chỉ kỹ sư chuyên nghiệp ASEAN, thì ngoài những yếu tố về tài năng bẩm sinh ra để trở thành một người kỹ sư chuyên nghiệp đạt chuẩn ASEAN thì những kỹ sư phải hội đủ 2 yếu tố của môi trường đó là môi trường đào tạo ngay trên ghế nhà trường và môi trường khi ra ngoài làm việc. Môi trường đào tạo nó sẽ giúp chúng ta có một nền tảng kiến thức cơ bản vững chắc. Còn môi trường làm việc đó là nó sẽ tạo cho chúng ta những cơ hội sớm được tiếp cận và lắm bắt những dự án lớn
Theo kỹ sư Nguyễn Văn Trương: “Trình độ ngoại ngữ của kỹ sư Việt Nam nói chung và kỹ sư hành nghề chuyên nghiệp nói riêng ở mức độ trung bình , hầu như không đáp ứng được các đòi hỏi từ phía đối tác nước ngoài đưa ra. Chính vì lý do đó mà hiện nay, nước ngoài không chỉ mang dự án và tiền vào Việt Nam để đầu tư mà họ còn cử cả kỹ sư nước mình sang để tiến hành quản lý, giám sát thi công. Đây chính là một hạn chế mà các kỹ sư Việt Nam cần phải sớm khắc phục để cạnh tranh một cách tự tin với các kỹ sư quốc tế”.
Trên đây là những ý kiến chuyên môn nhìn nhận từ nhiều góc độ. Song những người kỹ sư đã và đang được công nhận là kỹ sư chuyên nghiệp chuẩn ASEAN ngoài việc đạt những tiêu chuẩn về chuyên môn thì họ cũng phải có những trách nhiệm khác như: trách nhiệm đối với xã hội, trách nhiệm đối với nghề nghiệp, trách nhiệm đối với khách hành, trách nhiệm đối với đồng nghiệp và trách nhiệm đối với xã hội, lịch sử và giá trị vĩnh hằng.