Cung cấp bởi  
Thứ Ba, 15/07/2008 - 3:09 PM  

Cổ phần hóa VEAM và vấn đề Tam nông

Lâu nay, cái tên VEAM, chữ viết tắt từ tên giao dịch quốc tế Vietnam Engine and Agricultural Machinery Corporation của Tổng công ty Máy động lực và Máy nông nghiệp đã trở nên quen thuộc với bà con nông dân, chữ nông cuối cùng của Tam nông: Nông nghiệp – Nông thôn và Nông dân. Hơn lúc nào hết, lúc này, những chính sách để giải quyết những vấn đề của “Tam nông” cần phải được đặt ra, thực hiện một cách bức thiết.

Giữa chính sách và kết quả mà những người xây dựng chính sách mong muốn có được, cần phải có công cụ, phương tiện để thực hiện, không có các công cụ, phương tiện này thì chính sách chỉ là lời nói suông và không thể thực hiện được. VEAM chính là loại công cụ, phương tiện để thực hiện những chính sách đối với Tam nông. Từ những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước, VEAM được thành lập là một tổng công ty nhà nước, mang trên mình sứ mệnh rất quan trọng nhưng cũng rất nặng nề này. Suốt quá trình phát triển, đã có lúc hầu như VEAM không có chỗ đứng tại Việt Nam, các sản phẩm phải xuất khẩu là chủ yếu, đến nay VEAM đã chiếm một thị phần khoảng 25% và đủ sức kìm giữ giá sản phẩm ở mức người nông dân chấp nhận được. Giá các loại động cơ, máy kéo, máy nông nghiệp… của VEAM được giữ ở mức xấp xỉ máy Trung Quốc, 50% giá máy Hàn Quốc, 30% giá máy Nhật Bản. Trong nhiều năm qua, VEAM chủ trương và thực hiện việc bán hàng với nội dung: Không chỉ tạo ra cỗ máy mà đi kèm với nó là cả gói bao gồm sản phẩm, dịch vụ hậu mãi và quan trọng hơn là những thông tin, tri thức để có thể sử dụng, khai thác có hiệu quả các sản phẩm này.

Với sự ủng hộ của nhiều tỉnh trên toàn quốc, VEAM đã thực hiện được việc đào tạo huấn luyện kỹ thuật sử dụng sản phẩm, sửa chữa nhỏ và bán máy trả chậm cho nông dân. Số máy bán qua hình thức trả chậm lên tới hàng trăm ngàn máy, trong đó: Máy cày 1.0750 chiếc; Máy kéo xe vận chuyển 9.970 chiếc; Động cơ Diesel các loại và thiết bị gồm 70.000 chiếc; Các loại máy khác gần 10.000 máy. Qua đó, số nông dân có khả năng mua trả ngay cũng tăng mạnh với lượng mua cũng xấp xỉ kênh trả chậm. Từ năm 2000, VEAM đã tập huấn kỹ thuật được hơn 1.000 lớp cho hơn 30 tỉnh, thành thị với gần 600 huyện thị. Số bà con nông dân được học tập và truyền thụ kiến thức lên tới hàng trăm ngàn người. Nhận thấy việc sản xuất động cơ diesel, máy nông nghiệp để bán và giữ mặt bằng giá trong nước như hiện nay hầu như không có lợi nhuận. Để duy trì được việc sản xuất, bán sản phẩm và đào tạo nông dân, VEAM đã phải điều hòa lợi nhuận từ các hoạt động khác như xuất khẩu (giá bán được cao hơn giá trong nước), sản xuất hụ tùng cho công nghiệp ôtô – xe máy, hoạt động tài chính và xuất nhập khẩu thương mại khác. Dẫu vậy trong nhiều năm nay, VEAM vẫn tăng trưởng đều đặn, lợi nhuận tích lũy hàng năm được nhập vào vốn đã đưa số vốn nhà nước khoảng 300 tỷ đồng lúc mới thành lập lên xấp xỉ 3.000 tỷ đồng (năm 2007). Thế mạnh về vốn, đặc biệt tập trung tại cơ quan Tổng công ty (1.500 tỷ) đã tạo điều kiện để cơ quan Tổng công ty có thể hoạt động như một công ty mẹ và làm tốt nhiệm vụ chính trị là thực hiện chính sách cơ giới hóa của Đảng và Nhà nước đối với “Tam nông”.

Từ năm 2003, VEAM đã tiến hành thực hiện cổ phần hóa các đơn vị thành viên. Mặc dù sản xuất cơ khí là một ngành sản xuất rất khó khăn, lợi nhuận thấp nhưng nhiều công ty sau cổ phần hóa vẫn phát triển tốt. Đạt được kết quả này, ngoài việc các công ty được chuẩn bị tốt về nhân lực, về tổ chức sản xuất trước cổ phần hóa, còn có một lý do khá quan trọng, đó là sự hỗ trợ toàn diện từ cơ quan Tổng công ty, kể cả tài chính sau cổ phần hóa. Đây cũng là lý do vì sao sau cổ phần hóa, những phần việc mang tính chất phục vụ chính sách với Tam nông này mặc dù khó và ít lợi nhuận, vẫn được các công ty cổ phần tham gia thực hiện tốt. Hiện nay, VEAM vẫn đang thực hiện việc cổ phần hóa các đơn vị thành viên (dự kiến sẽ thực hiện cổ phần hóa toàn bộ các đơn vị thành viên), tuy nhiên, vấn đề đặt ra là điều gì sẽ xảy ra khi cổ phần hóa nốt “cơ quan Tổng công ty”, trong khi việc thực hiện cơ giới hóa sản xuất  nông nghiệp vẫn là một bộ phận quan trọng của các chính sách đối với Tam nông của Đảng và Nhà nước? Có thể có nhiều phương án, song mỗi cách đều có ưu và nhược điểm nhất định. Những việc như giữ mặt bằng giá phù hợp chính sách đào tạo, hỗ trợ nông dân… chuyển hết về các cơ quan Nhà nước, Hội Nông dân, còn VEAM hoạt động như một công ty cổ phần trên thị trường tự do. Mọi chi phí đều được định giá bằng tiền. Tuy nhiên, cũng có những cái khó khi thực hiện phương án này đó là:

a/ Sự gia tăng ngân sách.

b/ Phải thành lập một bộ máy mà bộ máy này cũng cần có chi tiêu và có thời gian để có thể có năng lực hoàn thành được nhiệm vụ, trong khoảng thời gian này, nông dân có thể bị bỏ rơi và tiền nhà nước bỏ ra có thể kém hiệu quả.

c/ Nhà nước sẽ phải vất vả để giải thích sự hỗ trợ này với WTO. Chưa cổ phần hóa cơ quan Tổng công ty mà vẫn để hoạt động theo mô hình Công ty mẹ 100% vốn Nhà nước, đây chính là mô hình cho phép tiếp tục phát triển ngành chế tạo động cơ và máy nông nghiệp trong điều kiện Tổng công ty vẫn phát triển có lợi nhuận và tăng trưởng như những năm qua. Hoạt động phối hợp và điều hòa giữa mục tiêu lợi nhuận và mục tiêu chính trị - xã hội: chính sách đối với Tam nông chính là thể hiện sự hỗ trợ gián tiếp của Nhà nước đối với Tam nông trong khuôn khổ WTO. Mặt khác, cũng cần thấy rằng, cổ phần hóa “Cơ quan Tổng công ty” vốn về mặt bản chất là một công ty “quản lý đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước” hoạt động trong lĩnh vực chuyên ngành sẽ chỉ là việc bán tiền lấy tiền để thu về Tổng công ty đầu tư, quản lý và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) và trao đi mất quyền điều hành của Nhà nước, trong lúc Nhà nước đang thực sự rất cần có các quyền này trong lĩnh vực máy động lực và máy nông nghiệp, nhằm thực hiện các chính sách đối với “Tam nông” để thực hiện công bằng xã hội.

Không muốn nói rằng (khi việc bán tiền lấy tiền (vốn) cộng với quyền chi phối để lấy tiền chưa xảy ra), Tổng Công ty SCIC sẽ không thể thay thế VEAM làm tốt các chính sách Tam nông. Thế nhưng, việc Tổng công ty này không quen và ít chú ý đến việc này vì họ đã có quá nhiều việc vĩ mô hơn phải lo là rõ, bằng chứng là trong nhiều năm qua, VEAM hầu như không nhận được

sự trợ giúp về tài chính đáng kể nào để phát triển ngành từ phía Nhà nước. Sự tăng trưởng để có số vốn gần 3.000 tỷ đồng hầu hết là do lợi nhuận tích lũy. Đạt tới mức vốn này mới bước đầu đủ cho VEAM đồng thời tăng trưởng, phát triển với việc thực hiện các chính sách đối với tam nông của Đảng và Nhà nước.

Có thể có ý kiến cho rằng, việc thực hiện cổ phần hóa cơ quan Tổng công ty với điều kiện Nhà nước nắm giữ 51% sẽ cho phép cơ quan Tổng công ty tiếp tục sứ mệnh đối với Tam nông của mình. Đây là việc khó có thể làm và sẽ làm mất hết ý nghĩa của việc cổ phần hóa vì Nhà nước không hề “hi sinh” quyền lợi của các cổ đông tư nhân qua việc làm giảm lợi nhuận của họ hoặc buộc họ phải đầu tư vào những lĩnh vực kém hấp dẫn hơn. Trong một bối cảnh thuận lợi hơn của khu vực nông nghiệp, khi mà người nông dân có đủ tiềm lực mua sắm máy móc, việc cổ phần hóa “cơ quan Tổng công ty” – Công ty mẹ hoàn toàn có thể thực hiện theo xu thế chung. Việc quyết định thời điểm cổ phần hóa cơ quan Tổng công ty VEAM không chỉ đơn giản là việc hoàn thành một lộ trình chung đã đặt ra, mà còn có ảnh hưởng nhiều đến việc thực hiện các chính sách đối với Tam nông của Đảng và Nhà nước, vì đây là một Tổng công ty sản xuất duy nhất đã và đang là lực lượng chủ yếu góp phần đẩy mạnh cơ giới hóa nông nghiệp ở Việt Nam, do vậy cần được xem xét thận trọng.

TS. Nguyễn Thang Giang

  Bản in

Quay về Doanh nhân và thương hiệu >>

Các bài mới:

Các bài đã đăng:



Truyền hình công nghiệp
Thông tin tài khoản