Cung cấp bởi  
Thứ Năm, 24/07/2008 - 10:59 AM  

Sức sống của làng nghề 700 tuổi

Quang cảnh một xưởng đóng tàu ở Trung Kiên

Mảnh đất Nghi Thiết – Nghi Lộc như một dải lụa mềm mại vắt quanh chân núi Rồng. Cư dân đông đúc, thuyền bè qua lại tấp nập, sông nước hữu tình, người ta biết đến Nghi Thiết không chỉ bởi là một địa danh du lịch, có bờ biển dài, đẹp và nên thơ, mà còn bởi nơi đây có một làng nghề đóng tàu thuyền tồn tại và phát triển đã hơn 700 năm.

Làng nghề đó mang một cái tên biểu hiện cho sức sống mạnh mẽ, bạt đi mọi gió mưa bão tố, hiên ngang trước mọi thiên tai, địch họa – làng Trung Kiên.

Làng Trung Kiên từ xa xưa có tên gọi là Hoàng Lao. Nghề đóng tàu ở đây có từ rất sớm. Tay nghề của người Hoàng Lao nổi tiếng khắp cả nước nên được giao đóng thuyền cho triều đình. Sách Đại Nam thực lục (bản do NXB Hà Nội ấn hành năm 1976) có ghi: Năm Đinh Mão Gia Long thứ sáu (1807), Vua sai Tham tri Công bộ Nguyễn Đức Huyên và Hàng Kim Điển, cùng Vệ úy thủy quân Phạm Văn Tường đi Hoàng Lao, Nghệ An dốc sức đóng 100 chiếc thuyền ô, loại thuyền kiểu tầu ô Quảng Đông – Trung Quốc. Tiếp đó, các triều nhà Nguyễn đều có chiếu chỉ cho Hoàng Lao đóng thuyền phục vụ triều đình. Trong hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc, thợ đóng tàu Trung Kiên lại nêu cao tinh thần yêu nước, sản xuất hàng ngàn con tàu ra trận. Những ngày tháng ấy, giặc Pháp lồng lộn trên bầu trời làng Trung Kiên hòng hủy diệt nơi sản sinh ra những "con rồng" thần thánh đã ngăn cản chúng trong cuộc chiến tranh phi nghĩa. Tháng 5/1952, Pháp đã thả bom đốt cháy làng Trung Kiên. Hàng trăm nóc nhà bị thiêu rụi, 30 người bị giết hại. Nhưng chúng không thể tiêu diệt được sức sống của một làng nghề yêu nước. Người Trung Kiên không hề nao núng, số tàu thuyền được sản xuất ra lại nhiều gấp bội. Với khẩu hiệu: “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả vì miền Nam ruột thịt”, người Trung Kiên vừa hăng hái sản xuất, chi viện cho miền Nam để đánh thắng giặc Mỹ, vừa anh dũng chiến đấu bảo vệ biển trời Tổ quốc. Trong những chiến công thầm lặng của quân và dân ta phải kể đến những chiếc tàu không số được ra đời tại làng Trung Kiên trong những năm tháng đánh Mỹ cứu nước.

Trước đây, nghề đóng tàu thuyền Trung Kiên chủ yếu làm theo phương pháp thủ công, lao động kỹ thuật ít. Ngày nay, nghề đóng tàu thuyền phát triển, đòi hỏi kỹ thuật ngày càng cao, đặc biệt là loại tàu đi xa có gắn máy công suất lớn. Người thợ Trung Kiên đã nhanh chóng tiếp thu khoa học kỹ thuật mới cùng với kinh nghiệm truyền thống của những người thợ tài hoa đã đóng được những con tàu có trọng tải lớn từ 70- 100 tấn. Hợp tác xã Trung Kiên đang từng ngày đổi mới. Hơn 30 tổ hợp đóng tàu thuyền lớn nhỏ trong HTX được quy tụ lại tạo thành sức mạnh tổng hợp. Bình quân mỗi năm, Trung Kiên đã đóng và xuất xưởng được hơn 200 chiếc tàu thuyền các loại, giải quyết công ăn, việc làm ổn định cho gần 800 lao động với thu nhập bình quân 900.000 đ/người/tháng. Doanh thu mỗi năm đạt từ 15- 20 tỷ đồng. Đây là những con số có ý nghĩa rất lớn đối với một xã nghèo không có đất canh tác như Trung Kiên. Khéo tay và cần mẫn là những đức tính của người thợ Trung Kiên. Từ những đôi bàn tay to bè chai sần, những chiếc thuyền nhỏ như thuyền te, thuyền lưới, thuyền giã, thuyền câu đến các loại tầu lớn như tàu du lịch có chiều dài 36- 48m, tàu đánh bắt xa bờ có công suất 150 – 200 mã lực… lần lượt ra đời và đến khắp mọi miền Tổ quốc. Và sắp tới sẽ còn được xuất khẩu sang Quảng Đông, Trung Quốc.

Người Trung Kiên hiển hách trong quá khứ và vững vàng trong hiện tại. Dù vậy, khi phải đối đầu với mặt trái của cơ chế thị trường, cũng giống như những làng nghề thủ công khác, ngôi làng bé nhỏ cũng không tránh khỏi những những phen lao đao. Cơ chế thị trường khiến người ta phải đối mặt với sự mất cân đối giữa “đầu vào” và “đầu ra”. Với làng nghề đóng tàu thuyền thì sự mất cân đối này càng dễ thấy. Giá gỗ thì tăng từng ngày, mà lại phải mua hàng trôi nổi, không rõ xuất xứ, thuế đầu vào không được khấu trừ do không có hóa đơn. Trong khi đó, giá sản phẩm đã được ấn định từ khi có đơn đặt hàng. Thời gian để đóng một con tàu phải mất hàng tháng trời với hàng trăm triệu đồng tiền vốn, đến khi tàu xuất xưởng thì đã bị trượt giá đi rất nhiều, chuyện không có lãi đã không còn xa lạ. Ngoài ra, làng Trung Kiên đất chật người đông, mặt bằng sản xuất không đủ, nếu tính tổng cộng trong các tổ hợp cũng chỉ xấp xỉ 10.000m2, trong khi nhu cầu thực tế phải là 27.000 m2. Người Trung Kiên loay hoay tìm lời giải cho bài toán cơ sở hạ tầng! Bên cạnh đó là tình trạng lưới điện xuống cấp, điện sản xuất dùng chung với điện sinh hoạt, công suất chỉ đủ đáp ứng 60% nhu cầu. HTX phải chia lịch sản xuất cho các tổ hợp. Rồi những thay đổi về nhu cầu của khách hàng mà làng Trung Kiên chưa thể thích ứng ngay được. Từ ngày xây dựng bara Nghi Quang, lạch sông ngày một bồi lắng và đang cạn dần, tàu trọng tải 20 tấn đóng xong phải nằm trong xưởng đến hàng tuần đợi thủy triều lên mới hạ thủy được. Trong khi đó, khách hàng đang có nhu cầu đặt hàng các loại tàu từ 30- 100 tấn… Phải nạo vét khơi thông luồng lạch, phải xây dựng trạm biến thế và cải tạo lưới điện, phải tìm được cách để mua gỗ đóng tàu mà không phải chịu lãi suất 1,5%/tháng..v.v.. Những nung nấu về một cuộc chuyển mình khiến cho người Trung Kiên nhiều đêm mất ngủ...

700 năm ra đời và cường thịnh, đó không phải là một điều dễ dàng đối với một làng nghề thủ công thuần túy, nhất là hiện nay, khi phải đối mặt với sự đổi thay như vũ bão của công nghệ tiên tiến và sự cạnh tranh khắc nghiệt của cơ chế thị trường. Nguy cơ thu hẹp sản xuất do không có người kế nghiệp đã không còn xa. Người Trung Kiên dù có yêu nghề đến mấy cũng không thể không có những nao núng trước những cơ hội kiếm sống dễ dàng bằng những nghề khác. Năm 2004, một tin vui làm nức lòng nhân dân xã, đó là được hỗ trợ 150 triệu đồng để đào tạo nhân cấy nghề từ Quỹ Khuyến công. Đây là một sự hỗ trợ kịp thời và có ý nghĩa thiết thực giúp cho HTX có kinh phí đào tạo hơn 100 lao động là con em trong làng nghề, chuẩn bị cho dự án mở rộng sản xuất. Giáo viên giảng dạy là các bậc cha chú đi trước, tình nguyện truyền đạt lại kiến thức của mình cho lớp trẻ. Có lẽ, đây chính là một nét đẹp mang tính đạo lý truyền thống không phải chỉ có ở làng nghề Trung Kiên mà còn ở tất cả các làng nghề trên đất nước Việt Nam. Truyền thống đó cần phải được nối tiếp, được tạo điều kiện để phát triển bằng mọi giá. Người Trung Kiên đang háo hức trông chờ, hy vọng  một ngày nào đó, bài toán giữ gìn và phát triển làng nghề của Trung Kiên sẽ có lời giải, tàu lớn tàu nhỏ của một làng nghề truyền thống hơn 700 năm tuổi sẽ tiếp tục căng buồm, lộng gió, xa khơi.

Minh Thủy

  Bản in

Quay về Khuyến công >>

Các bài mới:

Các bài đã đăng:



Truyền hình công nghiệp
Thông tin tài khoản