Tuy nhiên, về tốc độ tăng trưởng giá trị SXCN bình quân 6 tháng đầu năm chỉ đạt 15,7%, thấp hơn so với mức 20% mà kế hoạch cả năm đã đặt ra. Vậy nguyên nhân gì khiến công nghiệp thành phố không đạt định mức? Và cần có giải pháp gì giúp công nghiệp thành phố hoàn thành kế hoạch đề ra?
Nguyên nhân chính
Xét một cách tổng thể thì 6 tháng đầu năm 2008, thành phố Hà Nội cũng như nhiều địa phương khác trên cả nước đều chịu chung ảnh hưởng của tình hình lạm phát thế giới và suy thoái kinh tế Mỹ, khiến tổng kim ngạch xuất khẩu không đạt kế hoạch. Việc giá trị SXCN thành phố Hà Nội tăng trưởng chậm lại được lãnh đạo thành phố và một số chuyên gia kinh tế phân tích và thống nhất, là do 3 nguyên nhân chủ yếu sau:
Thứ nhất, xét theo góc độ các thành phần kinh tế: Theo số liệu thống kê, 6 tháng đầu năm 2008, giá trị SXCN của ba thành phần kinh tế chính (gồm: kinh tế nhà nước, kinh tế ngoài nhà nước, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài) cho thấy, nếu khu vực kinh tế nhà nước tăng 6% so với cùng kỳ 2007 (cùng kỳ năm 2007 là 5,1%), thì hai khu vực kinh tế còn lại, tốc độ tăng trưởng lại giảm đáng kể. Cụ thể, khu vực kinh tế ngoài nhà nước là 18,19% (trong khi cùng kỳ năm 2007 tăng trưởng 36%); khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là 22,1% (trong khi cùng kỳ năm 2007 là 34,6%). Do giá trị SXCN của hai khu vực kinh tế trên hiện chiếm tỷ trọng đáng kể trong toàn ngành công nghiệp (Khu vực kinh tế ngoài nhà nước là 25,67, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là 43,30% và tổng số cả hai khu vực chiếm tỷ trọng 68,97%), nên đã ảnh hưởng lớn đến tốc độ tăng trưởng chung của công nghiệp trên địa bàn. Nguyên nhân dẫn đến giảm tốc độ tăng trưởng của hai thành phần kinh tế nói trên, ngoài những nguyên nhân chung như: tình trạng lạm phát, giá cả nhiên liệu, nguyên liệu tăng cao gây tăng giá đầu vào, ảnh hưởng giá thành và sức cạnh tranh của sản phẩm; tình trạng mất điện luân phiên gây ảnh hưởng đến tiến độ sản xuất công nghiệp chung của toàn thành phố..., còn do nguyên nhân cơ bản nữa là một số doanh nghiệp tư nhân và đầu tư nước ngoài lớn đã di chuyển cơ sở sản xuất ra khỏi địa bàn thành phố Hà Nội (như Cty TNHH Minh Trí, TNHH Sam sung Industrial VN, TNHH Hòa Phát...). Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp giải thể, kết thúc hợp đồng (như Cty Cáp Vina Daesung, LD ô tô Daihatshu Vietindo...).
Thứ hai, xét theo góc độ các ngành sản xuất: Do giá cả nhiên liệu, đặc biệt là nguyên vật liệu đầu vào tăng cao, dẫn đến một loạt các phân ngành sản xuất chiếm tỷ trọng đáng kể trong toàn ngành công nghiệp có giá trị gia tăng thấp, cơ cấu nguyên vật liệu cấu thành sản phẩm chủ yếu phải nhập khẩu, nên đã ảnh hưởng lớn đến giá thành và sức cạnh tranh của sản phẩm, tốc độ tăng trưởng giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước, (Xem bảng 1).
Như vậy, có thể thấy rõ, sự sụt giảm của các ngành sản xuất trên đã gây ảnh hưởng lớn đến tốc độ tăng trưởng chung của toàn ngành công nghiệp Thành phố.
Thứ ba, một nguyên nhân cũng không kém phần quan trọng nữa đó là, ảnh hưởng về tỷ giá VNĐ/USD. 6 tháng đầu năm, tỷ giá giữa VNĐ/USD có sự biến động rất lớn, đã tác động đến các doanh nghiệp có liên quan đến xuất nhập khẩu và ảnh hưởng chung đến sản xuất công nghiệp trên địa bàn. Cụ thể, quý I, do tỷ giá VNĐ lên cao so với USD, nên việc chi trả bằng VNĐ tại các doanh nghiệp cũng tăng lên, còn các doanh nghiệp sản xuất các mặt hàng xuất khẩu cũng gặp rất nhiều khó khăn. Đến quý II, lại có sự biến động mạnh về tỷ giá, USD tăng giá mạnh so với VNĐ gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất, các máy móc thiết bị vật tư nguyên liệu nhập khẩu bằng USD đều tăng giá khi quy đổi ra VNĐ, làm tăng chi phí sản xuất. Những biến động thất thường trên của tỷ giá hối đoái trên thị trường đã làm giảm doanh thu và lợi nhuận của các doanh nghiệp (giảm giá trị tăng thêm), đồng thời cũng làm giảm tốc độ xuất nhập khẩu của ngành công nghiệp.
Các giải pháp
Các cấp có thẩm quyền của Thành phố cần xây dựng và triển khai thực hiện một số cơ chế chính sách nhằm khuyến khích ưu tiên, thúc đẩy tăng trưởng và đầu tư đối với các ngành và sản phẩm công nghiệp có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao, phát huy được lợi thế cạnh tranh của Hà Nội như: khuyến khích nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn thành phố; phát triển các ngành và sản phẩm công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn Thành phố Hà Nội, giai đoạn đến 2010, tầm nhìn 2020 và Danh mục các ngành và sản phẩm công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn Thành phố Hà Nội theo các giai đoạn: 2008-2010, 2020; ưu tiên phát triển các sản phẩm có hàm lượng chất xám và công nghệ cao, ít gây ô nhiễm môi trường; thu hút vốn đầu tư phát triển các sản phẩm công nghiệp chủ lực, xúc tiến phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ.
Tiếp tục thực hiện các chương trình, hoạt động nhằm hỗ trợ, tạo môi trường thuận lợi phát triển công nghiệp trên địa bàn, Chương trình phát triển sản phẩm công nghiệp chủ lực (SPCNCL) của thành phố trong năm 2008, tập trung vào ba nội dung chính là: công tác hỗ trợ SPCNCL; tổ chức đánh giá kết quả triển khai chương trình giai đoạn một; công tác xét chọn SPCNCL mới. Ngoài ra, chủ động tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc của 33 doanh nghiệp có sản phẩm được công nhận là SPCNCL; xây dựng cơ sở dữ liệu về 35 SPCNCL của 33 doanh nghiệp nhằm phục vụ cho công tác tra cứu, tổng hợp đánh giá. Có thể nói, những giải pháp đưa ra được coi như phương thuốc đặc trị, với hi vọng giúp cho công nghiệp thành phố hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch tăng trưởng cả năm. Tuy nhiên, nếu chỉ thực hiện tốt những giải pháp trên là chưa đủ, bởi từ 1/8 năm nay, khi mà Nghị quyết về việc mở rộng địa giới hành chính thành phố Hà Nội có hiệu lực, thì việc hoàn thành mục tiêu đó lại không dễ dàng. Bởi, ngoài ngành công nghiệp được coi là phát triển khá hiện nay, thì Hà Nội sẽ phải tiếp quản thêm công nghiệp của tỉnh Hà Tây và 2 huyện Mê Linh (Vĩnh Phúc), Lương Sơn (Hoà Bình).
Bảng 1: Tình hình tăng trưởng của các phân ngành Công nghiệp
trong 6 tháng đầu năm 2008
|
TT |
Tên ngành
Công nghiệp |
Tỷ trọng trong toàn ngành (theo giá trị SXCN) |
Tốc độ tăng trưởng so với cùng kỳ năm 2007 |
Tốc độ tăng trưởng so với cùng kỳ năm 2006 |
|
1 |
SX phương tiện VT khác |
16,85 |
16,5 |
41,4 |
|
2 |
SX thiết bị điện |
10,58 |
1,7 |
49,8 |
|
3 |
SX sản phẩm từ kim loại |
8,20 |
18,2 |
28,5 |
|
4 |
SX thực phẩm, đồ uống |
7,37 |
6,9 |
11 |
|
5 |
SX thiết bị văn phòng |
6,94 |
19,6 |
31,6 |
|
6 |
Dệt |
5,34 |
3,1 |
8,8 |
|
7 |
SX SP từ khoáng phi KL |
4,74 |
4,2 |
45,2 |