Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, nếu không thận trọng, phong trào “tập đoàn hóa” sẽ đưa đến những hệ lụy mới cho nền kinh tế. Một trong những vấn đề được mổ xẻ nhiều nhất là tính hiệu quả của các tập đoàn khi mở rộng hoạt động sang những lĩnh vực không phải sở trường.
Đó là vấn đề nóng được mổ xẻ tại hội thảo “Phát triển tập đoàn kinh tế VN trong thời kỳ hội nhập” (do Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương tổ chức, ngày 26-9-2007, tại Hà Nội). Tại Hội thảo, nhiều người đã lên tiếng bày tỏ sự lo ngại về “phong trào tập đoàn” hiện nay.
Một tháng sau, ngày 22/10/2007 tại lễ khai mạc kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XII, Quốc hội đã lên tiếng lo ngại về “phong trào” thành lập các tập đoàn kinh tế và Chính phủ cũng khẳng định “cần phải sớm có tổng kết đánh giá việc thành lập các tập đoàn kinh tế”.
Hiện nay, vấn đề thành lập và hoạt động của các TĐKT đang là điều được xã hội quan tâm vì:
- Tổng đầu tư của Nhà nước vẫn chủ yếu dành cho các tập đoàn và các DN nhà nước hoạt động không hiệu quả, nhưng đang tìm cách bành trướng, lấn sân sang những lĩnh vực có vẻ “dễ ăn (xổi)” như ngân hàng, chứng khoán, bất động sản…Như, điện thiếu, nhưng ngành Điện không tập trung lo việc chính (sở trường), lại chỉ lo tăng giá điện (kêu là thiếu vốn trầm trọng) và lại có tiền để chạy theo “sở đoản”, bành trướng sang ngân hàng, viễn thông, bất động sản...
Các tập đoàn này có thể là những quả bom nổ chậm đối với nền kinh tế, chứ chưa chắc đã là những quả “đấm thép” như người ta kỳ vọng. E rằng, trong vòng 5-7 năm tới, chúng ta sẽ có thể phải hứng chịu những hậu quả khó lường.
Bởi lẽ, các TĐKT nhà nước tập trung quyền lực kinh tế, nhảy vào các lĩnh vực khác có vẻ dễ sinh lời nhưng hàm chứa rất nhiều rủi ro. Đó là mối nguy cơ tiềm ẩn lớn đối với nền kinh tế. Đơn cử như cơn sốt nhà đất hiện nay đang gây nên hiệu ứng lan tỏa, kéo cả các nhà đầu tư nước ngoài tham gia, rất nhiều người đầu cơ đẩy giá nhà đất lên cao một cách phi lý.
- Hiện tượng phải dùng tiền ngân sách để giải quyết vấn đề, khoanh nợ cho các DNNN trong những năm qua là bài học đắt giá cho các nhà hoạch định chính sách.
Trong khi các tập đoàn trên thế giới đang có xu hướng tập trung nguồn lực để trở thành những tập đoàn đa quốc gia có thế mạnh vượt trội về một lĩnh vực cụ thể, như Microsoft nổi tiếng về công nghệ phần mềm, Walmart kinh doanh chuỗi siêu thị bán lẻ..., thì các tập đoàn ở Việt Nam với công nghệ, vốn, trình độ quản lý, nhân lực... còn khiêm tốn, lại không lo tập trung vào lĩnh vực có thế mạnh và chuyên ngành, lĩnh vực thuộc sở trường của mình mà ngay từ đầu đã chủ trương kinh doanh đa ngành.
Nhiều DN bung ra, hoạt động theo phương châm đa ngành, đa lĩnh vực, dẫn đến nguy cơ “vượt tầm quản lý”. Đa phần các tập đoàn lựa chọn đầu tư vào bất động sản, chứng khoán, ngân hàng... Những lĩnh vực đó hoàn toàn không thuộc sở trường của họ, nhưng có thể đem lại lợi nhuận cao trong thời gian ngắn đồng thời cũng chứa đựng nhiều rủi ro.
Giáo sư John Quelch, Phó hiệu trưởng Trường kinh doanh Harvard, thầy phù thuỷ về thương hiệu đã từng tư vấn: “Chính phủ Việt Nam, con người Việt Nam cần phải đầu tư cho dài hạn, không chỉ giới hạn tham vọng trong những lợi ích ngắn hạn. Những lợi ích nhanh chóng không thể xây dựng tương lai của một quốc gia”.
Thế nhưng, Tập đoàn Dầu khí (PetroVietnam) đầu tư vào nhiệt điện, bất động sản, ngân hàng, chứng khoán, hàng không...; Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đầu tư vào ngân hàng, viễn thông... Có doanh nghiệp còn bán bớt cổ phần tại các đơn vị kinh doanh mang lại nguồn thu nhập chính cho mình, để rút vốn đầu tư và xây dựng cao ốc văn phòng cho thuê, khách sạn, du lịch…
Những ngày vừa qua, dư luận cũng rộ lên vấn đề Dự án Nhà máy thép liên hợp Vinashin - POSCO tại cảng trung chuyển container quốc tế Vân Phong thuộc khu vực Hòn Ông (Đầm Môn, bán đảo Hòn Gốm, phía bắc Khu kinh tế Vân Phong)”. Dự án này POSCO sẽ liên doanh với Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy VN (Vinashin).
Trước đó, Vinashin, tuyên bố đang có ý định thành lập nhà máy bia, và mới đây Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam khởi công xây dựng nhà máy bia tại Long An; các tập đoàn từ Dầu khí, Điện lực, Viễn thông, đến Công nghiệp Tàu thủy, Đường sắt, Hàng hải, Hàng không... đều đã có các công ty trực thuộc, các bộ phận kinh doanh vào những lĩnh vực ngoài ngành nghề chính, như công ty tài chính, công ty bất động sản, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư...
Bên cạnh đó, nhiều tập đoàn, tổng công ty lớn của Nhà nước đang ráo riết nhảy vào những lĩnh vực vốn không phải là “sở trường” của mình.
Chẳng hạn, ngoài việc đi vào lĩnh vực khai thác bôxit và sản xuất nhôm, Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin) còn đang tiến vào lĩnh vực sản xuất điện, thông qua đầu tư xây dựng nhiều nhà máy điện chạy than, mà trước đây vốn thuộc “địa hạt” của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN). Cùng “nhảy” vào lĩnh vực điện của EVN còn có Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petro Vietnam) với việc đầu tư nhà máy điện chạy bằng khí tự nhiên. Petro Vietnam cũng đồng thời bắt đầu xây dựng một tổ hợp khách sạn 5 sao, văn phòng và căn hộ cho thuê bên cạnh việc mở rộng lĩnh vực chuyên ngành là công nghiệp dầu khí. Trong khi đó, Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin) và Petro Vietnam đang tiến vào lĩnh vực vận tải biển từng được xem là “lãnh địa” của Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines).
Như vậy, không chỉ lấn sân sang các lĩnh vực của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, mà các tập đoàn, các tổng công ty cũng đang lấn sang các lĩnh vực kinh doanh vốn được coi là truyền thống của nhau.
Sự đầu tư tràn lan, tuỳ hứng, không khoa học theo kiều “phong trào” vì lợi ích nhỏ, cục bộ trước mắt, quên đến hậu quả sau này đã khiến dư luận một lần nữa dấy lên câu hỏi có nên có sự đa dạng hóa hoạt động của các TĐKT?
- Do không xác định về điều kiện và mức khống chế nên có nhiều tổng công ty, TĐKT nhà nước có nợ phải trả lớn gấp nhiều lần vốn chủ sở hữu, dẫn đến khả năng thanh toán không đảm bảo, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động sản xuất-kinh doanh.
Điển hình, trong thời gian qua đã có một số tổng công ty, công ty nhà nước lâm vào tình trạng này như: TCT Xây dựng Công trình giao thông I có số nợ gấp 36,7 lần vốn chủ sở hữu, TCT Xây dựng miền Trung gấp 35 lần, TCT Xây dựng Công trình giao thông 5 gấp 32,7 lần, Tập đoàn Công nghiệp Tàu thuỷ Việt Nam gấp 17,2 lần...
PGS, TS Trần Đình Thiên - Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho rằng: Cách tổ chức các TĐKT như hiện nay có nguy cơ sẽ làm cho thị trường méo mó, hiệu quả giảm, khi thị trường mở ra sẽ rất nguy hiểm. Một thực tế hiện nay là các TĐKT nhà nước đang nhận được sự yểm trợ quá lớn của Nhà nước thông qua sự ưu ái về nguồn lực tài chính, về cơ hội đầu tư... khiến khu vực tư nhân bị đẩy ra ngoài những cơ hội lớn, kìm hãm sự tăng trưởng của khu vực này. Trong khi đó, khu vực tư nhân tạo được việc làm nhiều nhất, sử dụng vốn hiệu quả nhất (hai yếu tố rất quan trọng cho một nước nghèo đi lên) thì phải giành cơ hội cho khu vực này.
- Còn theo Bà Phạm Chi Lan, năng lực mà các DN của Việt Nam vận hành với tư cách một tập đoàn thì còn nhiều vấn đề cần phải bàn. Cần xem lại khi ra quyết định thành lập tập đoàn, cần quy định, họ phải dành bao nhiêu nguồn lực cho hoạt động kinh doanh cốt lõi, tối thiểu cũng phải 80% vốn.
- TS Nguyễn Quang A, Viện trưởng, Viện Nghiên cứu Phát triển IDS cho biết, tập đoàn ở nước ta hiện nay có vẻ giống (hay học theo) kairetsu của Nhật Bản và chaebol của Hàn Quốc những năm 60-70 của thế kỷ trước, nay đã lạc hậu, bộc lộ nhiều khiếm khuyết. Khác biệt lớn nhất là các tập đoàn này là công ty tư nhân, còn ta hiện nay vẫn là quốc doanh.
- Tập đoàn ở nước ta đa phần có “vỏ” mà chưa có “ruột”
- Có quá nhiều TĐKT và TCT nhà nước nuôi tham vọng “đá chéo sân” phải chăng chỉ là chạy theo “mốt”, quên mất sở trường để “chinh phục” sở đoản.
Điều cốt lõi mà Nhà nước nên làm lúc này là phải thực sự bình tâm, nhìn lại và từ bỏ những việc không phải là của mình. Đó là không can thiệp quá nhiều vào các hoạt động kinh doanh, không ưu ái cho các tập đoàn nhà nước. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng nên có quyết tâm và lộ trình cụ thể để tinh giản bộ máy và nâng cao hiệu quả sản xuất - kinh doanh của DNNN. Mặt khác, Nhà nước nên thúc đẩy quá trình tư nhân hóa các tập đoàn kinh tế nhà nước càng nhanh càng tốt, lắng nghe nhiều ý kiến khác, trái ngược nhau từ xã hội, để từ đó, lựa chọn và thử nghiệm tìm được một phương thức quản lý thích hợp nhất.