Cung cấp bởi  
Thứ Năm, 08/05/2008 - 3:02 PM  

Công tác an toàn - vệ sinh lao động ở các địa phương và doanh nghiệp

Theo qui định tại Nghị định 06/CP ngày 20/1/1995 của Chính phủ qui định chi tiết một số điều của Bộ luật Lao động về an toàn lao động, vệ sinh lao động và Nghị định số 110/2002/NĐ-CP ngày 27/12/2002 của Chính phủ thì UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện quản lý nhà nước ở địa phương mình về lĩnh vực này cần xây dựng các mục tiêu bảo đảm an toàn, vệ sinh và cải thiện điều kiện lao động, đưa vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách của địa phương.

Đặc biệt, từ năm 2006, theo phê duyệt của Chương trình quốc gia về Bảo hộ lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động (BHLĐ, ATLĐ, VSLĐ) đến năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ, thì các địa phương không những phải thực hiện nhiệm vụ về AT - VSLĐ nói trên mà còn phải tham gia vào các dự án của chương trình để phấn đấu giảm tai nạn lao động (TNLĐ), mắc mới bệnh nghề nghiệp (BNN) và cải thiện điều kiện lao động, góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững cho cả quốc gia.

Công tác quản lý nhà nước về ATLĐ hiện đã được phân cấp mạnh về các địa phương, như đăng ký sử dụng các loại máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về  AT - VSLĐ; thực hiện thanh tra, kiểm tra việc kiểm định đối với các loại máy, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về AT - VSLĐ; tổ chức huấn luyện và cấp giấy chứng nhận huấn luyện về AT - VSLĐ cho người sử dụng lao động; quản lý và cấp thẻ ATLĐ cho người làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về AT - VSLĐ; thực hiện việc thanh tra, kiểm tra, xử phạt hành chính các vi phạm về AT - VSLĐ trên địa bàn...

Khi tổ chức thực hiện, người sử dụng lao động trong các doanh nghiệp cần nghiêm chỉnh thực hiện các nghĩa vụ, trách nhiệm về AT - VSLĐ mà luật pháp đã qui định tại Điều 13 của Nghị định 06/CP ngày 20/1/1995 như: Khi xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải lập kế hoạch, biện pháp AT - VSLĐ và cải thiện điều kiện lao động; trang bị đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân, thực hiện tốt các chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật, chế độ đối với lao động nữ, chế độ bồi thường TNLĐ, BNN, các qui định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, trang bị các phương tiện cấp cứu, kiểm tra đo đạc các yếu tố độc hại, khi phát hiện có bất thường phải kịp thời kiểm tra, xử lý; xây dựng nội qui, qui trình AT - VSLĐ phù hợp với từng loại máy, thiết bị, công nghệ đúng theo tiêu chuẩn của Nhà nước; tổ chức khám sức khoẻ, huấn luyện AT - VSLĐ cho NLĐ; thực hiện  nghiêm chỉnh các qui định về đăng ký, kiểm định khi sử dụng các loại máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về AT - VSLĐ; thống kê, báo cáo tình hình thực hiện...

Tuy nhiên, thực tế trong nhiều năm qua cho thấy, còn nhiều  tỉnh, thành phố chưa quan tâm và đầu tư cho công tác AT - VSLĐ, chưa coi đó là một phần trong kế hoạch, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Năm 2008, Nhà nước đã cấp kinh phí hỗ trợ cho 64 tỉnh, thành phố trong cả nước tham gia vào Chương trình quốc gia, song đến nay, nhiều tỉnh vẫn không xây dựng chương trình kế hoạch đúng với qui định, trong đó có 7 tỉnh, thành phố không xây dựng kế hoạch giảm TNLĐ, BNN.

Cùng với sự tăng trưởng về kinh tế, sự gia tăng lực lượng lao động và số doanh nghiệp, trong công tác AT - VSLĐ, chúng ta đang phải đối mặt với những thách thức về sự gia tăng TNLĐ, BNN và ô nhiễm môi trường lao động. Để hạn chế và giảm thiểu sự phát triển bất lợi đó,  không chỉ các địa phương cần quan tâm làm tốt công tác quản lý Nhà nước mà còn cần cả các doanh nghiệp thực hiện tốt các qui định về AT - VSLĐ như: Tổ chức và phân định trách nhiệm cho các bộ phận trong doanh nghiệp (hội đồng BHLĐ, bộ phận BHLĐ, bộ phận y tế, mạng lưới an toàn - vệ sinh viên); tổ chức phân công trách nhiệm đến từng cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn (quản đốc phân xưởng, tổ trưởng tổ sản xuất, bộ phận kỹ thuật, bộ phận kế hoạch, bộ phận tài vụ, bộ phận tổ chức...); cử người giám sát việc thực hiện các quy định, nội quy, biện pháp ATLĐ, VSLĐ trong doanh nghiệp; phối hợp với công đoàn cơ sở xây dựng và duy trì sự hoạt động của mạng lưới an toàn - vệ sinh viên.

Phân tích nguyên nhân các vụ TNLĐ chết người năm 2007 cho thấy, nguyên nhân chủ yếu là do nhận thức, ý thức tự giác chấp hành các qui định của pháp luật về AT - VSLĐ chưa cao. Có đến 35,53% tổng số vụ do người sử dụng lao động vi phạm các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật an toàn; không xây dựng quy trình, biện pháp làm việc an toàn; không huấn luyện về an toàn lao động, không có phương tiện bảo vệ cá nhân; thiết bị không đảm bảo an toàn lao động và 30% tổng số vụ do người lao động vi phạm quy trình, biện pháp an toàn, không sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân.

Qua kiểm tra thực tế còn thấy, tại nhiều doanh nghiệp, Hội đồng BHLĐ vẫn chưa được thành lập, phân cấp trách nhiệm trong công tác AT-VSLĐ không đầy đủ, hoạt động còn hình thức. Việc tổ chức huấn luyện về AT -VSLĐ cho người sử dụng lao động, người lao động, người làm công tác AT - VSLĐ chưa thực hiện. Công tác tự kiểm tra thực hiện rất hạn chế, chưa chỉ rõ các tồn tại, biện pháp khắc phục, mặc dù thực tế sản xuất ẩn chứa nguy cơ gây tai nạn lao động. Kết quả xử lý phiếu kiểm tra của thanh tra lao động phát đến doanh nghiệp và qua thanh tra năm 2005 - 2007 cho thấy, bình quân mỗi doanh nghiệp có khoảng 3- 5 sai phạm.

Theo số liệu của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), mỗi năm trên thế giới có khoảng 270 triệu người bị TNLĐ phải nghỉ việc ít nhất là 3 ngày, trong đó có 350.000 ca chết người và khoảng 160 triệu người mắc BNN, làm khoảng từ 1,7 đến 2 triệu người chết. TNLĐ, BNN làm thiệt hại khoảng 4% GDP của toàn thế giới. Dự báo của Việt Nam đến năm 2010, trong khu vực công nghiệp sẽ có khoảng 120-130 ngàn người bị TNLĐ/năm, khoảng 200.000 người mắc BNN và thiệt hại vật chất hàng nghìn tỷ đồng/năm nếu không có các biện pháp ngăn chặn, cải thiện tốt về điều kiện lao động, môi trường lao động.

Rõ ràng, công tác AT - VSLĐ có tác động rất lớn đến kinh tế - xã hội  của mỗi quốc gia và đem lại quyền lợi trước hết cho doanh nghiệp, người lao động và bản thân gia đình họ. Điều này một lần nữa được khẳng định qua một nghiên cứu mới đây tại Canađa cho thấy, nếu đầu tư cho công tác AT - VSLĐ 01 đô la Mỹ sẽ thu lại được  từ 1,5 – 8 đô la Mỹ. Các nghiên cứu về lợi nhuận thu được từ đầu tư cho công tác AT - VSLĐ cũng được tiến hành tại nhiều nước như Đức, Trung Quốc… và đều đã cho những kết quả khả  quan tương ứng. Một kết quả nghiên cứu tại Cộng đồng Châu Âu cũng cho thấy, chi phí trực tiếp và gián tiếp trung bình cho 1 người bị TNLĐ khoảng 25.000 EUR, nhưng nếu phòng ngừa tốt thì nó có thể đem lại cho người lao động  khoảng 3.000 EUR/ người mỗi năm. Đây là những con số lý tưởng nếu so sánh với mức sống trên 1 đô la Mỹ/ người một ngày mà các quốc gia đang phấn đấu trong xoá đói giảm nghèo.

Để giảm được TNLĐ, BNN, cải thiện điều kiện lao động, môi trường lao động, các địa phương cần phải thực hiện tốt công tác quản lý Nhà nước về AT - VSLĐ ở địa phương. Người sử dụng lao động và người lao động phải thực thi các nghĩa vụ và trách nhiệm đã được luật pháp qui định. Đặc biệt, các địa phương cần tập trung làm tốt một số vấn đề sau:

1- Xây dựng mục tiêu bảo đảm an toàn, vệ sinh, cải thiện điều kiện lao động và chủ động tham gia thực hiện tốt Chương trình quốc gia về BHLĐ, ATLĐ, VSLĐ đến năm 2010 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, phấn đấu đạt các mục tiêu đề ra. Tránh tình trạng không xây dựng kế hoạch cho Chương trình quốc gia như một số tỉnh hiện nay.

2- Chỉ đạo các cơ quan chức năng của địa phương phối hợp với các bộ, ngành có liên quan tăng cường công tác thanh tra về AT - VSLĐ, PCCN ở tất cả các cơ sở thuộc mọi thành phần kinh tế, tập trung thanh tra các lĩnh vực xây dựng; lắp đặt, sửa chữa và sử dụng điện; khai thác khoáng sản, khai thác đá; sử dụng các thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về ATLĐ; các công trình xây dựng trọng điểm. Phối hợp chặt chẽ với liên đoàn lao động, các tổ chức chính trị, xã hội địa phương tổ chức thực hiện tốt công tác BHLĐ.

3 - Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, huấn luyện, nâng cao nhận thức ATVSLĐ, PCCN cho người sử dụng lao động, người lao động, nhằm phòng ngừa và hạn chế đến mức thấp nhất TNLĐ, BNN, cháy nổ, đặc biệt trong các lĩnh vực có nhiều yếu tố nguy hiểm, độc hại đe doạ tính mạng, sức khoẻ người lao động, tăng cường phổ biến các biện pháp cải thiện điều kiện lao động đến các doanh nghiệp.

4- Đôn đốc việc thực hiện công tác BHLĐ của các doanh nghiệp như bố trí cán bộ làm công tác bảo hộ lao động, thực hiện việc tự kiểm tra, tổ chức huấn luyện ATVSLĐ theo qui định của pháp luật; chấn chỉnh công tác thống kê, báo cáo tai nạn lao động; tiến hành điều tra kịp thời, chính xác các vụ TNLĐ chết người, sử dụng hoá chất độc hại gây ảnh hưởng đến môi trường.

5- Xử lý nghiêm những cá nhân thiếu tinh thần, trách nhiệm, vi phạm các  qui định  ATVSLĐ, PCCN.

Đoàn Minh Hòa - Cục trưởng Cục An toàn Lao động Bộ Lao động - Thương binh và Xã Hội

  Bản in

Quay về Vấn đề - Sự kiện >>

Các bài mới:

Các bài đã đăng:

Truyền hình công nghiệp
Thông tin tài khoản