Cung cấp bởi  
Thứ Ba, 05/08/2008 - 3:31 PM  

Những đề xuất thí điểm cổ phần hóa Viện Nghiên cứu Cơ khí

Bên cạnh việc sắp xếp, cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, đổi mới cơ chế quản lý hoạt động KH&CN đang là đòi hỏi cấp bách trong tình hình hiện nay. Đáp ứng yêu cầu trên, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05/9/2005 quy định quy chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học công nghệ công lập; Nghị định số 80/2007/NĐ-CP ngày 19/5/2007 về doanh nghiệp KH&CN, nhằm chuyển đổi các tổ chức khoa học công lập đang hoạt động theo cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường có định hướng và quản lý của Nhà nước

Viện Nghiên cứu Cơ khí (NARIME) là đơn vị nghiên cứu triển khai của Bộ Công Thương, thuộc quyền quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Trải qua 46 năm xây dựng và phát triển, tập thể lãnh đạo và cán bộ công nhân viên thuộc các thế hệ của Viện đã nỗ lực phấn đấu không ngừng và đạt được nhiều thành tích trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Viện đã được Đảng, Nhà nước và các Bộ, ngành tặng nhiều phần thưởng cao quý. Trước yêu cầu phát triển và sự cần thiết phải cổ phần hóa Viện, Đảng uỷ, Ban Giám đốc, Ban chấp hành Công đoàn và toàn thể cán bộ, công nhân viên Viện Nghiên cứu Cơ khí tiếp tục phát huy sáng tạo, tự chủ, đoàn kết, nhất trí đề nghị Bộ trình Đề án chuyển đổi lên Thủ tướng Chính phủ, cho phép thí điểm chuyển đổi Viện Nghiên cứu Cơ khí thành doanh nghiệp KH&CN, hoạt động theo hình thức công ty cổ phần.

 Đề án chuyển đổi Viện Nghiên cứu Cơ khí, tổ chức KH&CN công lập hoạt động theo cơ chế sự nghiệp thành doanh nghiệp KH&CN hình thức công ty cổ phần gọi là “Đề án thí điểm cổ phần hóa Viện Nghiên cứu Cơ khí”, nhằm thực hiện các mục tiêu: Tăng cường trách nhiệm và nâng cao tính tích cực, chủ động, năng động, sáng tạo; tạo điều kiện gắn nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ với sản xuất, kinh doanh và đào tạo nhân lực, đẩy nhanh quá trình xã hội hóa các hoạt động KH&CN; tạo lập và phát triển thị trường KH&CN; đa dạng hóa sở hữu, huy động vốn của các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài để nâng cao năng lực tài chính, đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức quản lý, nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; đảm bảo hài hòa lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp, nhà đầu tư và người lao động trong doanh nghiệp, thực hiện công khai, minh bạch theo nguyên tắc thị trường.

 Hiện nay đã có một số viện nghiên cứu chuyển thành doanh nghiệp KH&CN dưới hình thức công ty TNHH, công ty mẹ - công ty con... rồi tiếp tục cổ phần hoá, nhưng chưa có đơn vị nào chuyển thẳng từ viện hoạt động sự nghiệp sang công ty cổ phần, do vậy Đề án chuyển đổi Viện Nghiên cứu Cơ khí thành công ty cổ phần được xem là thí điểm cổ phần hoá Viện. Mặt khác, tuy đã có Nghị định về doanh nghiệp KH&CN, nhưng vẫn chưa có văn bản hướng dẫn thực hiện, nên rất cần chuyển đổi thí điểm trước một vài đơn vị để rút kinh nghiệm và tạo hiệu ứng lan tỏa. 

 Xuất phát từ đặc điểm doanh nghiệp KH&CN là doanh nghiệp nhưng có nhiều khác biệt so với các doanh nghiệp khác, đó là :

 Thứ nhất, doanh nghiệp KH&CN là doanh nghiệp hoạt động chính trong lĩnh vực KH&CN, là hoạt động có đặc thù riêng liên quan đến hoạt động trí óc, hay còn gọi là lao động trừu tượng, với công cụ lao động chủ yếu là chất xám  con người, giá trị thực tế của “công cụ” lao động này hiện vẫn chưa xác định được cụ thể, nhưng chắc chắn nó là tài sản quan trọng của doanh nghiệp KH&CN và được gọi là tài sản trí tuệ.

 Thứ hai, sản phẩm mà doanh nghiệp KH&CN tạo ra là loại hàng hoá đặc biệt (sản phẩm, dịch vụ KH&CN và quyền sở hữu trí tuệ) khác với các hàng hóa thông thường khác ở chỗ nó có thể tồn tại dưới dạng hữu hình hoặc vô hình. Do đặc thù của lao động khoa học, hàng hoá KH&CN là loại hàng hoá mang tính công cộng, nhanh lạc hậu, dễ bộc lộ bí quyết công nghệ, mang nhiều tính rủi ro và khó định giá.

 Thứ ba, thị trường để lưu thông hàng hoá KH&CN được gọi là thị trường KH&CN, đây là thị trường bộ phận trong hệ thống thị trường, nhưng thị trường KH&CN hình thành muộn hơn và có nhiều điểm khác biệt so với các thị trường hàng hoá khác.

 Chính vì vậy, chúng tôi cho rằng, khi thực hiện chuyển đổi các tổ chức khoa học công nghệ thành doanh nghiệp KH&CN nói chung, cổ phần hoá doanh nghiệp KH&CN nói riêng, phải xem xét đến tính đặc thù của nó, từ đó vận dụng những cơ chế, chính sách  vào doanh nghiệp KH&CN cho phù hợp. Nghị định 109/2007/ NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ về việc chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần (cổ phần hoá DNNN) nếu đem áp dụng cứng nhắc vào cổ phần hoá các doanh nghiệp KH&CN là chưa phù hợp. Hơn thế nữa, lại đem áp dụng vào “cổ phần hoá đơn vị sự nghiệp nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ” thì lại càng bất cập. Cũng như vậy, Thông tư số 146/2007/TT-BTC ngày 06 tháng 12 năm 2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định 109/2007/NĐ-CP nếu áp dụng hướng dẫn thực hiện Nghị định 80/2007/NĐ-CP ngày 19/5/2007 về doanh nghiệp KH&CN thì rõ ràng là chưa phù hợp. Khi nhìn nhận và phát triển doanh nghiệp KH&CN và đề ra chính sách quản lý phải đứng trên quan điểm khoa học và lợi ích chung của toàn xã hội và của nhà khoa học. Nhận thức được vấn đề này, Viện đã đề nghị cấp trên đề xuất với Thủ tướng Chính phủ cho áp dụng thí điểm cổ phần hoá Viện với các nội dung mới sau:

 - Tài sản trí tuệ là tài sản quan trọng của doanh nghiệp KH&CN gắn với con người nằm trong tổ chức, do vậy được phân chia sở hữu một cách hợp lý để phát triển và khai thác có hiệu quả. Để khuyến khích, hội tụ được các nhà khoa học tiếp tục đóng góp cho khoa học, tránh tư nhân hóa và xa rời hoạt động chính, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước, đảm bảo hài hòa lợi ích chung cho xã hội, đề nghị cho áp dụng thí điểm “cổ phiếu vàng” thời hạn 5 năm, với tỷ lệ 20% trên vốn nhà nước đầu tư tại công ty cổ phần. “Cổ phiếu vàng” là cổ phiếu thuộc sở hữu nhà nước được ghi danh cho tập thể các nhà khoa học, cổ tức được chia trên mệnh giá. Sau thời gian 5 năm, nếu Nhà nước không cần nắm giữ tỷ lệ cổ phần theo điều lệ của Viện quy định thì cổ phiếu vàng sẽ được bán đấu giá trên thị trường để thu hồi vốn cho Nhà nước.

 - Giá trị lợi thế vị trí địa lý (nếu áp dụng theo Thông tư số 146/2007/TT-BTC) của Viện ước tính gấp khoảng 10 lần so với tài sản thực tế của Viện (không tính tài sản là phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia). Với giá trị lợi thế vị trí đất lớn như vậy, Viện sẽ không có nguồn kinh phí để nộp Nhà nước và khả năng sẽ không hoặc rất ít có nhà đầu tư quan tâm đến. Mặt khác, Viện không tập trung khai thác lợi thế vị trí địa lý như các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, thương mại, kinh doanh bất động sản, mà hoạt động chính thuộc lĩnh vực nghiên cứu ứng dụng (R&D), vì thế, lợi thế vị trí địa lý không ảnh hưởng nhiều đến kết quả hoạt động của Viện. Vì vậy, đề nghị cho phép không phải tính giá trị lợi thế vị trí địa lý vào giá trị doanh nghiệp khi thí điểm cổ phần hoá Viện.

 Đề án thí điểm cổ phần hóa Viện Nghiên cứu Cơ khí đã trình các cơ quan có thẩm quyền từ tháng 6/2007. Tuy nhiên, đây là vấn đề mới và đang được thí điểm,  nên sau nhiều lần báo cáo và giải trình, các cơ quan vẫn đang tiếp tục trao đổi để đi đến thống nhất, dự kiến trình Thủ tướng Chính phủ quyết định trong tháng 7/2008.

 Giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các tổ chức khoa học công lập là chủ trương lớn của Nhà nước. Nhưng chúng tôi thấy rằng, nếu chưa được giao thì muốn được tự chịu trách nhiệm vẫn chưa được, bởi vì bản thân cơ sở không thể tự “cởi trói” được. Hơn nữa, phải xin ý kiến nhiều đầu mối và sự cho ý kiến cũng khác nhau, nên rất khó tổng hợp và hiện tại, cơ sở cũng không biết “cởi trói” từ đâu. Do đó, các cơ quan có liên quan cần phải thống nhất và hoàn thiện đồng bộ các cơ chế về: tài sản (bao gồm cả tài sản trí tuệ), tài chính, đầu tư... để các tổ chức khoa học công nghệ chuyển đổi thực sự được tự chủ và tự chịu trách nhiệm, hơn thế nữa là để các tổ chức này hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp và trở thành doanh nghiệp. Nghị định 115/2005/NĐ-CP; Nghị định 80/2007/NĐ-CP trong đổi mới cơ chế quản lý hoạt động KH&CN có đi vào cuộc sống và phát huy được tác dụng như “khoán 10” trong nông nghiệp hay không, còn tuỳ thuộc rất nhiều vào không chỉ nhận thức của các tổ chức KH&CN, mà còn phụ thuộc vào hành động quyết liệt của các cấp quản lý trong việc đưa ra những giải pháp mang tính hệ thống và cả những giải pháp đặc thù. Chúng tôi hy vọng, Đề án thí điểm cổ phần hoá Viện Nghiên cứu Cơ khí được triển khai thực hiện, để có căn cứ rút kinh nghiệm, góp phần mở đường cho cải cách và đổi mới phát triển KH&CN và thị trường KH&CN, nhằm giải phóng sức sáng tạo, đưa KH&CN trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp có năng suất cao, coi KH&CN thực sự là quốc sách hàng đầu để tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, phục vụ CNH, HĐH đất nước.

 

 

Đoàn Hữu Bẩy Viện Nghiên cứu Cơ khí - Bộ Công Thương

  Bản in

Quay về Vấn đề - Sự kiện >>

Các bài mới:

Các bài đã đăng:

Truyền hình công nghiệp
Thông tin tài khoản