Cung cấp bởi  
Thứ Hai, 11/08/2008 - 9:23 AM  

Xung quanh vấn đề đầu tư xây dựng liên hợp luyện thép tại Việt Nam

Sau 1 năm gia nhập WTO, lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng rất nhanh. Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2008, tổng số vốn FDI của Việt Nam đã vượt 31 tỷ USD (so với 20,3 tỷ USD FDI của cả năm 2007).

Đặc biệt, ngành công nghiệp Thép Việt Nam là trong những ngành thu hút được lượng vốn FDI với nhiều dự án liên hợp luyện thép lớn. Lý giải về vấn đề này có thể thấy, do nền kinh tế của Việt Nam thời gian qua có mức tăng trưởng cao và ổn định trong nhiều năm. Thêm vào đó, mức tiêu thụ thép hàng năm tính theo đầu người của Việt Nam mới ở mức ~120kg thép/người. Như vậy, với số dân hơn 84 triệu người, để cơ bản trở thành một nước công nghiệp, Việt Nam sẽ là 1 thị trường tiêu thụ thép lớn. Hiện nay, Việt Nam mới chỉ sản xuất chủ yếu là sản phẩm thép cuộn, thép xây dựng, khoảng ~ 4 triệu tấn /năm. Các sản phẩm  như thép tám, thép lá, thép tiền chế hầu hết phải nhập khẩu. Đẩy nhanh tốc độ phát triển ngành Thép là yêu cầu tất yếu của một nước công nghiệp, nhưng, phát triển ngành Thép như thế nào ở Việt Nam lại là điều cần bàn.

Chỉ thêm 2 nhà máy là đủ

Đó là quan điểm của Hiệp hội Thép Việt Nam trước tình hình “bùng nổ” nhiều liên hợp luyện thép đã được khởi công xây dựng ở Việt Nam trong thời gian gần đây. Hiện nay, có tổng số 5 Liên hợp đã và đang được tiến hành ở Việt Nam. Đầu tiên phải kể đến là Nhà máy Liên hợp Thép Formosa – Sunco ở Vũng Áng (Hà Tĩnh). Đây là nhà máy liên hợp thép 100% vốn của Đài Loan do 2 đối tác là Tập đoàn Formosa chuyên sản xuất hoá dầu Plastic (95% vốn) và công ty Sunco (5% vốn). Công suất dự kiến là 15 triệu tấn/năm trên diện tích 3.035ha. Công suất của giai đoạn 1 là 7,5 triệu tấn/năm. Chưa đầy một tháng sau khi nhận được giấy phép đầu tư, ngày 6/7/2008, lễ động thổ đã được tiến hành. Theo dự kiến, sau 36 tháng (năm 2011) sẽ hoàn thành xây dựng lò cao số 1 và cảng biển. Sau 48 tháng (năm 2012) sẽ hoàn thành lò cao số 2. Tổng vốn đầu tư giai đoạn I là 7,8 tỷ USD. Giai đoạn 2, các nhà đầu tư Đài Loan sẽ nâng công suất lên gấp 2 (là 15 triệu tấn/năm) và sẽ xây dựng nhà máy điện để tự cung cấp điện cho Khu Liên hợp.

Tiếp theo là Nhà máy Liên hợp thép Tycoon-E.United Dung Quất (Quãng Ngãi). Được cấp giấy phép đầu tư năm 2006, ban đầu, Dự án này là sản phẩm liên doanh giữa Tycoon (Đài Loan) và Jinnan (Trung Quốc), với công suất 5 triệu tấn/năm và tổng đầu tư công bố hơn 1tỷ USD.

           Ngoài 2 dự án đã khởi công xây dựng, còn có 3 dự án đang trong giai đoạn chờ giấy phép đầu tư. Đó là Liên hợp thép liên doanh giữa VnSteel và Tập đoàn Tata (Ấn Độ), Liên hợp thép liên doanh giữa Tập đoàn thép Posco (Hàn Quốc) và VinaShin (Việt Nam) dự kiến đặt ở vịnh Vân Phong (tỉnh Khánh Hoà); Liên hợp thép liên doanh giữa Tập đoàn Lion Group (Malaysia) và VinaShin.

Có thể nói, nếu như các dự án xây dựng nhà máy liên hợp luyện kim lớn nêu trên trở thành hiện thực thì sau 5 hay 7 năm nữa, ngành công nghiệp Thép Việt Nam có bước tiến nhảy vọt đáng kinh ngạc, với tổng công suất vài chục triệu tấn/năm. Tuy nhiên, điều này sẽ khó xảy ra vì các nhà đầu tư buộc phải cân nhắc đến nhu cầu thực tế của thị trường Việt Nam và thị trường các nước khu vực trong tương lai để quyết định đầu tư. Có lẽ, với thị trường Việt Nam và các nước trong khu vực, việc có thêm 2 nhà máy liên hợp luyện thép công suất 5-10 triệu tấn/năm trong 5 năm tới là thích hợp. Nếu quá nhiều nhà máy liên hợp ra đời sẽ dẫn tới cung vượt cầu, lúc đó, sự cạnh tranh sẽ khốc liệt sẽ xảy ra và điều thua thiệt sẽ rơi vào các công ty thép nhỏ và vừa của Việt Nam, vì các công ty này vừa mới đầu tư và đang còn gặp nhiều khó khăn trong giai đoạn đầu của quá trình hội nhập

          Vai trò của chủ nhà quá mờ nhạt

Trong số 5 dự án liên hợp lớn nêu trên, chỉ có 1 dự án có vai trò của Việt Nam là dự án của VnSteel và Tata. Biên bản ghi nhớ đầu tiên được ký vào tháng 5/2007, sau đó, hai bên bắt đầu tiến hành lập luận chứng khả thi cho nhà máy Liên hợp thép tại Hà Tĩnh, dựa trên nguyên liệu quặng sắt mỏ Thạch Khê với công suất dự kiến 4,5÷5 triệu tấn thép/năm. Thời gian hoàn thành luận chứng (F/S) dự kiến là 16 tháng, tính từ tháng 6/2007. Nhưng sau đó, hai bên đã thống nhất đẩy nhanh tiến độ để có thể hoàn thành F/S vào tháng 9/2008. Cuối năm 2007, thêm một bản ghi nhớ được ký kết giữa 2 bên về việc thiết lập nhà máy cán nguội ở Vũng Áng (Hà Tĩnh), dự án này được coi là một phần của dự án nhà máy liên hợp. Hiện tại, 2 đối tác đang thảo luận vấn đề cung cấp ổn định quặng sắt Thạch Khê cho Liên hợp khi Liên hợp hình thành và đi vào sản xuất. Vấn đề là ở chỗ Công ty mỏ quặng sắt Thạch Khê là công ty cổ phần, mà VnSteel chỉ có 20% trong tổng số cổ phần ở đó. Trong khi đó, theo quy định của Chính phủ Việt Nam, việc tham gia của đối tác nước ngoài vào các dự án mỏ không được quá 30%.

Dự án đang tiến hành thứ 2 là liên hợp thép liên doanh giữa Tập đoàn thép Posco (Hàn Quốc) và Vinashin (Việt Nam). Công suất dự kiến giai đoạn 1 là 4 triệu tấn/năm. Công nghệ áp dụng cho Liên hợp là công nghệ Finex là công nghệ mới của Hàn Quốc, vừa được công bố và đưa vào áp dụng quy mô công nghiệp năm 2006 (sẽ xây dựng 2 môđun Finex, mỗi môđun công suất 2 triệu tấn/năm). Việc lựa chọn vịnh Vân Phong để đặt nhà máy liên hợp nhằm tận dụng địa thế thuận lợi, không cần xây đập chắn sóng. Vịnh có mực nước sâu, có thể xây cảng tiếp nhận tầu 400.000 DWT, nhưng liên hợp đang gặp khó khăn về vị trí đặt nhà máy, do ở đây đã có quy hoạch cho cảng trung chuyển container của Bộ Giao thông vận tải và vịnh Vân Phong, Khánh Hoà cũng là khu du lịch của Việt Nam. Tháng 6/2008, VinaShin đã rút khỏi dự án vì lý do tập trung vốn cho các dự án trọng điểm khác, nên dự án trên sẽ là 100% vốn của Posco (Hàn Quốc). Đầu tháng 6/2008, bản dự án của Posco đã được đệ trình lên Chính phủ Việt Nam chờ giấy phép đầu tư

Tương tự, Liên hợp thép liên doanh giữa Tập đoàn Lion Group (Malaysia) và VinaShin. Bản ghi nhớ đã được ký kết trong chuyến thăm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tới Malaysia vào cuối năm 2006. Nhà máy sẽ đặt tại tỉnh Ninh Thuận, công suất dự kiến 4,5 triệu tấn/năm. Liên hợp sẽ sản xuất 4,8 triệu tấn thép thô/năm và sản phẩm cuộn cán nóng (HRC) 4,5 triệu tấn/năm. Hiện nay vẫn chưa rõ VinaShin có tiếp tục tham gia liên doanh hay sẽ rút khỏi liên doanh như đã làm với dự án của Posco (Hàn Quốc).

Có thể nói, việc đánh mất vai trò là nước chủ nhà có thể làm cho Việt Nam ít bị rủi ro khi phải đầu tư vào ngành thép là ngành cần lượng vốn lớn, thời gian thu hồi vốn kéo dài và ít lợi nhuận so với ngành khác, nhưng với một ngành quan trọng mà sản phẩm có liên quan đến hầu hết các ngành kinh tế và quốc phòng nên toàn bộ vốn từ FDI của nước ngoài, sẽ làm cho vai trò của nước chủ nhà là Việt Nam trở nên vô cùng mờ nhạt. Trung Quốc chỉ cho phép nước ngoài đầu tư vào ngành thép không quá 30%, không cho đầu tư vào ngành thép nếu không có công nghệ mới, không cho đầu tư liên hợp cũng là những điều Việt Nam cần tham khảo. Trong tương lai, Việt Nam vẫn cần có liên hợp thép mạnh như Trung Quốc có Bảo Sơn, Hàn Quốc có Posco, Đài Loan có China Steel, Indonesia có Krakatau Steel, Malaysia có Lion Group,…để có sự chủ động nhất định trong ngành công nghiệp Thép.

Không đủ cơ sở để giám sát

Việc để toàn bộ liên hợp là 100% vốn nước ngoài thì Việt Nam chỉ có thể theo dõi sự thực hiện dự án ở 2 lĩnh vực: Công nghệ và đánh giá tác động môi trường. Tuy nhiên, ở cả 2 lĩnh vực này, nếu Việt Nam không trực tiếp tham gia dự án, mà chỉ giám sát thông qua những thông tin nêu trong dự án thì hoàn toàn không có đủ cơ sở để kết luận. Đấy là chưa nói trình độ cán bộ trong lĩnh vực công nghệ và môi trường của Việt Nam còn kém xa so với trình độ chung, khó có thể thực thi một cách hoàn chỉnh 2 nhiệm vụ giám sát nói trên.

Ngoài ra, việc xây dựng quá nhiều liên hợp thép còn dẫn đến một thực tế là chúng ta chấp nhận đối tác có phần dễ dãi. Từ chuyện dễ dãi đó sẽ dẫn đến tình trạng dự án kéo dài không thực hiện được, vì thực tế là đối tác không có khả năng tài chính và công nghệ, để cuối cùng, sau một số năm phải đổi đối tác, phần còn lại của đối tác lúc ban đầu chỉ còn 5% hay 10% trong liên doanh. Cụ thể như trong Dự án Nhà máy Liên hợp thép Tycoon-E.United Dung Quất (Quãng Ngãi). Với suất đầu tư quá nhỏ tính cho 1 tấn công suất đã gây nghi ngờ về tính hiện thực của dự án. Sau 1 thời gian, Cty Jinnan (Trung Quốc) rút khỏi dự án và thay vào đó là cty E-United (Đài Loan) với 90% vốn, chỉ còn lại 10% của Tycoon, trở thành Liên hợp 100% vốn Đài Loan và đã đưa tổng mức đầu tư cho Liên hợp lên trên 3 tỷ USD. Tháng 10/2007, dự án đã được động thổ. Công suất gian đoạn 1 của Liên hợp là 3 triệu tấn/năm bao gồm: 0,5 triệu tấn/năm phôi vuông và 2,5 triệu tấn/năm cuộn cán nóng. Gần đây có thông tin, các Công ty Đài Loan đang tiếp tục dàn xếp nguồn vốn vay để thực thi dự án.

Điều này khó có thể khẳng định sẽ không xảy ra đối với những dự án lớn trong tương lai. Hầu hết các dự án lớn sẽ chia ra nhiều giai đoạn, thời gian thực hiện 5- 7 năm nên nếu không có những ràng buộc chặt chẽ về mặt pháp lý sẽ có đối tác chỉ thực hiện giai đoạn đầu, tranh thủ chiếm dụng diện tích rất lớn trong nhiều năm mà không thực hiện, cản trở việc thực thi của các dự án khác hoặc kéo rất dài thời gian thực hiện dự án.

Hoàng Quân

  Bản in

Quay về Vấn đề - Sự kiện >>

Các bài mới:

Các bài đã đăng:

Truyền hình công nghiệp
Thông tin tài khoản