 |
|
|
Ngành Công Thương là ngành có vị trí then chốt trong nền kinh tế, có quy mô rộng lớn với gần 600.000 lao động, làm việc trong hơn 600 cơ sở sản xuất kinh doanh. Hoạt động của Ngành cũng hội tụ đầy đủ các yếu tố nguy hiểm, nặng nhọc, độc hại như: Khai thác chế biến khoáng sản, luyện thép, khai thác dầu khí, dệt may... Các cơ sở sản xuất mới, cũ đan xen nhau, một số lao động trẻ kinh nghiệm nghề nghiệp còn ít, ý thức, tác phong công nghiệp chưa cao. Nhiều cơ sở có trang thiết bị máy móc, nhà xưởng còn cũ, môi trường lao động chưa được cải thiện, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây sự cố tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp...
|
Xem tiếp  |
|
 |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Trong sự nghiệp phát triển nền kinh tế quốc dân, cả sản lượng và số lượng các mỏ đá khai thác bằng nổ mìn (đá vôi làm xi măng, đá xây dựng làm đường giao thông...) đều đang tăng trưởng mạnh. Trong số các sản phẩm đá này, chỉ có một số rất ít được khai thác từ các nguồn đá thải khi đào gương lò cái của các mỏ khác, cùng với các công trình ngầm và một số được khai thác từ các mỏ lộ thiên dạng lòng chảo - xuống âm (moins), còn lại chủ yếu được khai thác từ các mỏ lộ thiên trên cao.
|
|
Xem tiếp
|
|
|
|
|
Trong những năm qua, công tác quản lý nhà nước về bảo hộ lao động (BHLĐ), an toàn – vệ sinh lao động (ATVSLĐ) đã có những chuyển biến tích cực. Hệ thống các văn bản pháp luật hướng dẫn và bảo đảm thực thi chế độ, chính sách về BHLĐ cho người lao động được ban hành tương đối đầy đủ và thường xuyên được bổ sung, sửa đổi phù hợp với tình hình mới. Bộ máy tổ chức và cán bộ làm công tác BHLĐ bước đầu được củng cố từ cơ quan quản lý nhà nước đến các doanh nghiệp, trong đó nổi bật là việc thành lập được Hội đồng Quốc gia về BHLĐ sau 10 năm triển khai Bộ luật Lao động và việc phát triển mạng lưới an toàn – vệ sinh viên với hơn 153 nghìn người.
|
|
Xem tiếp
|
|
|
|
|
Trong những năm gần đây, công tác bảo hộ lao động (BHLĐ) đã được Nhà nước, các bộ ngành, đoàn thể và doanh nghiệp quan tâm đầu tư nên nhận thức của người lao động ngày càng được nâng lên rõ rệt. Cùng với những thành tựu đã đạt được về phát triển kinh tế và xã hội đất nước, công tác BHLĐ cũng có những chuyển biến tích cực, các cơ sở có nhiều sáng tạo, cải tiến hợp lý hoá sản xuất, cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động, từ đó thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
|
|
Xem tiếp
|
|
|
|
|
|
Bước vào thực hiện nhiệm vụ sản xuất - kinh doanh năm 2008, bên cạnh việc chuẩn bị nguồn vật tư, nhân lực, Tổng công ty Khoáng sản TKV đặc biệt coi trọng công tác kiểm tra, thanh tra công tác an toàn - bảo hộ lao động (AT-BHLĐ) vì đặc thù của ngành khai thác khoáng sản là nặng nhọc, tiềm ẩn nhiều nguy cơ dễ xảy ra tai nạn lao động.
|
|
Xem tiếp
|
|
|
|
Khai báo, điều tra, thống kê, báo cáo tai nạn lao động (TNLĐ) là nhằm giúp các cơ quan quản lý nhà nước đánh giá được tình hình TNLĐ xảy ra trong từng ngành, lĩnh vực sản xuất và các địa phương. Trên cơ sở đó tổng hợp, phân tích nguyên nhân, nhằm tìm ra những giải pháp hạn chế, tăng cường công tác quản lý và kịp thời điều chỉnh, bổ sung các quy định pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động phù hợp với đặc điểm sản xuất từng thời kỳ.
|
|
Xem tiếp
|
|
|
|
|
Thực trạng an toàn trong khai thác đá
Cùng với sự gia tăng các hoạt động đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông, thủy lợi và xây dựng công trình, nhà ở của nhân dân thì nhu cầu về đá làm vật liệu xây dựng ngày một tăng cao. Việc khai thác đá làm vật liệu xây dựng đang được triển khai rộng khắp trên hầu hết các địa phương trong cả nước, với sự tham gia của các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế. Hoạt động này không chỉ góp phần giải quyết nhu cầu về vật liệu xây dựng, mà còn tạo ra nhiều việc làm cho hàng vạn lao động ở các địa phương, trong đó chủ yếu là lao động nông nhàn, lao động thủ công sống gần các mỏ đá.
|
|
Xem tiếp
|
|
|
Công ty Công nghiệp Mỏ Việt Bắc - TKV |
Kể từ khi ra đời đến nay, tình hình sản xuất và kinh doanh của Công ty Công nghiệp Mỏ Việt Bắc – TKV ngày càng phát triển, mức thu nộp cho ngân sách Nhà nước cũng được tăng lên hàng năm với mức ban đầu chỉ có một vài tỷ đồng, đến năm 2006 đã tăng lên trên 60 tỷ đồng. Từ chỗ chỉ quản lý một vài mỏ than nhỏ lẻ, đến năm 2007, Công ty đã quản lý và chỉ đạo 18 công ty con, các chi nhánh, nhà máy, xí nghiệp trực thuộc đóng trên địa bàn 8 tỉnh, thành phố, trong đó địa bàn chính vẫn là tỉnh Thái Nguyên và các tỉnh thuộc chiến khu Việt Bắc năm xưa. Góp phần làm nên những thành công này không thể không kể đến những nỗ lực của toàn Công ty trong công tác ATBHLĐ và PCCN.
|
|
Xem tiếp
|
|
|
|
|
Năm 2007, kinh tế của Việt Nam tăng trưởng khoảng 8,5%. Với tốc độ phát triển như hiện nay, Việt Nam được đánh giá là một nước có tốc độ phát triển kinh tế ở mức cao trong khu vực. Bên cạnh những thành tựu đạt được về kinh tế còn có một số vấn đề nổi cộm, kìm hãm sự phát triển mà trong đó có vấn đề về tai nạn lao động.
|
|
Xem tiếp
|
|
|
Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam |
|
Năm 2007, Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam (TKV) đã có nhiều giải pháp đồng bộ, từ việc tổ chức kiện toàn bộ máy, bổ sung lãnh đạo (phó giám đốc các đơn vị chuyên trách về an toàn), hệ thống giám sát an toàn, lực lượng thanh tra an toàn mỏ; đầu tư thiết bị khoan thăm dò tiến trước, áp dụng cơ giới hóa khâu đào lò, giá khung di động ZH 1600… đến hệ thống thiết bị quan trắc, quản lý khí mỏ. Vì vậy, ngành Than nói riêng và TKV nói chung đã đạt được nhiều kết quả, có nhiều chuyển biến mạnh mẽ trong công tác quản lý, chỉ đạo, thực hiện các giải pháp, các quy định pháp luật về an toàn-vệ sinh lao động (một số chỉ tiêu đánh giá được trình bày ở bảng).
|
|
Xem tiếp
|
|
|
|
|
|
| Các bài đã đăng:
|
|
|
|