Trong bài viết này, chúng tôi muốn trao đổi đôi điều về công tác an toàn lao động khi khai thác đá lộ thiên trên cao bằng nổ mìn, theo 2 khía cạnh: hệ thống khai thác đá lộ thiên trên cao và sử dụng vật liệu nổ công nghiệp ở các mỏ này.
Về hệ thống khai thác: Do quá thiên về lợi dụng thế năng của khối đá nguyên, cho nên hầu như các mỏ đá trên cao đều không cắt tầng theo hướng dẫn nêu trong điều 4.2 về yêu cầu an toàn khi mở tầng trong "Quy phạm kỹ thuật an toàn trong khai thác và chế biến đá lộ thiên" - TCVN 5178 - 2004. Hệ thống khai thác thường gặp nhất là hệ thống các máng đá dốc trên 600 kéo từ mức mặt sân công nghiệp chân dốc lên đỉnh núi, không để lại cộ đá chân dốc, kể cả khi độ cao của máng đá đạt tới vài chục mét.
Hệ thống khai thác này tuy thuận lợi cho quá trình đập vỡ thêm các tảng đá nổ mìn lớn trên đường lao xuống chân dốc, cho công tác thu gom, bốc xúc, vận chuyển các sản phẩm đá nổ mìn, cũng như công tác đập vỡ nốt những tảng đá quá cỡ còn lại ngay trên bề mặt sân công nghiệp (dù bằng phương pháp nổ mìn hay bằng các máy đục phá lớn); tạo điều kiện giảm chi phí làm và duy tu đường tầng; giảm chi phí vận chuyển... và giảm giá thành sản phẩm khai thác. Nhưng khi độ chênh cao của máng đá kể từ chân dốc lên điểm công tác của giải khấu đã vượt quá mức cho phép như thường gặp thì gây ra rất nhiều nguy cơ mất an toàn, trong đó đáng kể nhất là:
- Nguy cơ mất an toàn cho người và trang thiết bị công tác trên đó: vừa phải thường trực chống lại sự chênh vênh, thiếu ổn định trong quá trình làm việc với bụi, tiếng ồn và rung động; vừa phải năng động hứng chịu và né tránh những tảng đá nhỏ, đôi khi là những dòng đá lăn, những trận gió mạnh và mưa rào bất thường.
- Nguy cơ mất an toàn cho cả khối đá nằm theo toàn bộ hoặc phần lớn bề mặt máng đá đang cần khai thác với nguyên nhân cơ bản là lực tổng hợp gây trượt khối đá đó rất cao và phản lực chống trượt của cộ đá chân dốc lại không có; đặc tính liên kết và đặc tính khe nứt của chúng lại bất thường, bởi chúng thường xuyên chịu tác động của nước trọng lực trong kẽ đá, của sóng nổ mìn, của lực rung động từ các thiết bị hoạt động trên mặt máng..., đến nỗi khối đá trượt có thể bao gồm cả khối đá mặt máng khai thác và khối đá mặt sân công nghiệp sát chân dốc.
Trong quá trình khai thác, một mặt, công tác thăm dò dự báo tình trạng khối đá cần khai thác thường chỉ được tiến hành bằng mắt thường và sự phán đoán theo kinh nghiệm. Công tác này vẫn chưa có quy trình chuẩn, thông qua các kết quả quan trắc và xử lý số liệu chuẩn của một đội ngũ lao động chuyên nghiệp, có phương pháp và trang thiết bị dụng cụ chuyên dùng. Mặt khác, công tác thủ tiêu và phòng tránh những nguy cơ gây sự cố trong quá trình khai thác liên quan đến hệ thống khai thác và điều kiện tự nhiên lại chưa có những phương án cụ thể. Thí dụ, tuy đã đề cập đến yêu cầu an toàn cậy bẩy đá om; tạo chỗ đứng và sử dụng dây an toàn cho người lao động... nhưng vẫn chưa đề cập đến yêu cầu cập nhật sự thay đổi tính ổn định của máng đá do sự thay đổi các tính chất cơ lý của khối đá, cho nên vẫn chưa đề cập đến yêu cầu khoan thăm dò kẽ nứt, hốc rỗng, tính chất khối đá cùng với yêu cầu khoan tháo nước và khoan gia cố khi cần thiết.
Với hệ thống khai thác đá lộ thiên trên cao bằng nổ mìn như thế, dẫu có đảm bảo cho người và trang thiết bị không ngã trượt trên mặt máng khai thác, thì cũng khó đảm bảo khối đá trên mặt máng cần khai thác không bị trượt lở bất thường, bởi sự cộng hưởng của yếu tố chủ động là lực gây trượt cao, trong khi phản lực chống trượt không có, mà lực liên kết trong khối đá bị suy giảm bất thường do tác động mở rộng mạng khe nứt của nước trọng lực, sóng nổ mìn, rung động của máy móc thiết bị và thời tiết xấu; trong khi công tác quan trắc kiểm tra, đánh giá rủi ro... lại không phù hợp với điều kiện thực tế làm cho cả người sử dụng lao động và người lao động đều không nhận thức được thấu đáo vấn đề.
Về công tác sử dụng vật liệu nổ công nghiệp: Hầu hết các mỏ khai thác đá lộ thiên, theo máng dốc trên cao, bằng phương pháp khoan nổ mìn, đều sử dụng các búa khoan cầm tay, chạy bằng khí nén, để khoan các lỗ mìn nhỏ f = (25 -32)mm và sâu lkh = (3,0- 4,5)m. Đây là phương pháp khai thác dễ đem lại hiệu quả kinh tế kỹ thuật cao, nhờ các yếu tố cơ bản sau: Cho phép sử dụng các trang thiết bị rẻ tiền, dễ sử dụng. Cho phép sử dụng thuốc nổ rời giá rẻ (mật độ chất hoạt tính thấp (1,15g/cm3, tốc độ nổ thấp v < 4,0 km/s), dễ kích nổ bằng kíp điện thông thường. Cho phép sử dụng lao động đào tạo ngắn hạn, trình độ chuyên môn không cao, giá rẻ. Dễ điều chỉnh mạng lỗ mìn theo điều kiện hiện trường. Giảm được số chu kỳ khoan nổ mìn, giảm được chi phí phụ trong quá trình nạp nổ mìn, tăng được hệ số sử dụng liên tục các trang thiết bị khoan, xúc bốc và vận tải. Giảm được độ văng xa của đá nổ mìn, tăng độ đồng đều của hạt đá, giảm tỷ lệ đá quá cỡ...
Tuy nhiên trong điều kiện Việt Nam hiện nay, phương pháp này lại tạo ra nhiều nguy cơ mất an toàn lao động rất đáng kể, do cả các yếu tố chủ quan và các yếu tố khách quan chính sau đây:
+ Ở nước ta, một mặt, do chưa sản xuất thuốc nổ đóng thỏi f = 25mm; mặt khác, do đơn giá thuốc nổ đóng thỏi f= 25mm nhập khẩu lại quá cao so với đơn giá thuốc nổ rời sản xuất trong nước, cho nên khi thiết kế hộ chiếu khoan nổ mìn với các lỗ có đường kính f = (25-32)mm, vô hình chung đã phải chọn phương án sử dụng thuốc nổ rời sản xuất trong nước, nếu không được loại đóng bao lớn, thì cũng phải là loại đóng bao f = 32mm rồi tháo rời ra để rót vào lỗ khoan.
+ Do thực hiện nạp thuốc nổ rời vào lỗ khoan bằng phương pháp đổ rót thủ công, nên cả người sử dụng lao động và người lao động, đều thường bỏ qua yêu cầu dùng thỏi thuốc nổ mồi như điều 7.1.11-TCVN 4586:1997 và thường thả liều kíp rời vào trong lỗ mìn, bất chấp quy định cấm trong điều 7.1.10-TCVN 4586:1997.
+ Khi lỗ mìn có f = (25-32)mm, có chiều sâu L > 3,0m và sử dụng thuốc nổ rời có khả năng sinh công V < 300cm3; để tăng khả năng vỡ đều khối đá gần miệng lỗ mìn, thường phải gia tăng lượng thuốc nổ, đến mức hệ số nạp mìn a = lth / lkh = (0,93-0,85). Tiếp theo, để vừa tránh hiện tượng không nổ hết thuốc nổ ở đáy cột thuốc cũng như ở đỉnh cột thuốc, vừa tăng hệ số sử dụng chiều sâu lỗ mìn h = ln / lkh; trong mỗi lỗ mìn, thường được thả 2 kíp nổ rời: trong đó 1 kíp nổ ở vị trí gần 2/5 đoạn thuốc nổ gần đáy lỗ mìn, còn 1 kíp nổ ở vị trí gần đỉnh cột thuốc nổ, bất chấp quy định trong điều 7.1.11-TCVN 4586: 1997.
+ Việc nhồi mìn thủ công trong các trường hợp này, nói chung đều rất khó khăn và nguy cơ mất an toàn đều rất cao, nhất là khi: Không cố định kíp nổ trong bao thuốc nổ mồi, mà thả kíp nổ tự do trong lỗ mìn, rồi đổ rót thuốc nổ rời phủ lấp đi. Trong nhiều trường hợp, để tiện cung ứng gậy nhồi mìn vừa nhỏ, vừa dài, người ta đã sử dụng các gậy tre dóc, hoặc các gậy mảnh tre gai đã pha chẻ. Đây là các loại gậy dễ dập vỡ đầu trong quá trình nhồi, trở thành chùm dùi đâm sâu vào cột thuốc, thậm chí đâm cả vào kíp nổ, gây sự cố bất thường.
+ Ở các mỏ đá lộ thiên trên cao, hầu như chỉ sử dụng loại kíp điện nổ đồng thời; cho nên với những máng đá lớn, số lượng lỗ mìn nổ đồng thời nhiều đáng kể, sóng nổ và lực rung động của các máy công tác trên mặt máng đá đã làm suy giảm độ bền và độ ổn định của khối đá ở đây, vì thế khi thời tiết xấu, trong khối đá lại có các khe nứt chứa nước có áp, có thể xuất hiện nguy cơ mất an toàn cho toàn máng đá.
Một vài suy luận:
Việc thanh tra an toàn còn chưa sát thực tế, việc xử lý các hệ thống khai thác đá trên cao sai quy định của TCVN 5178:2004, cũng như công tác sử dụng vật liệu nổ công nghiệp sai quy định của TCVN 4586:1997 còn chưa kiên quyết, cho nên còn tiềm ẩn nguy cơ gây trượt lở toàn máng khai thác và nguy cơ sự cố khi nạp nổ mìn.
Một mặt, chúng ta cần chỉ đạo sản xuất các bao thuốc nổ f=25mm, và hướng dẫn cách làm bao thuốc nổ mồi f= 25mm khi không có bao thuốc nổ tiêu chuẩn phù hợp. Mặt khác, chúng ta cần có biện pháp kiểm tra thực tế quá trình nạp mìn, để sớm chấm dứt hiện tượng nạp mìn không dùng thỏi thuốc mồi.
Chúng ta cần bổ sung vào bộ tiêu chuẩn an toàn TCVN 4586:1997 và bộ quy phạm an toàn TCVN 5178:2004 cách bố trí các bao thuốc nổ mồi và yêu cầu đối với các dụng cụ nhồi mìn thủ công (chất lượng vật liệu: gỗ, song...; quy cách đầu gậy: hiệu số đường kính lỗ mìn và đường kính đầu gậy...); sao cho vừa đảm bảo các yêu cầu kinh tế kỹ thuật, vừa đảm bảo các yêu cầu an toàn; khi lỗ mìn nhỏ f= (25-32) mm, có độ sâu lớn lkh = (3,0-4,5 )m và chỉ nạp loại thuốc nổ vừa yếu, vừa kém nhạy nổ.
Đã đến lúc cần xây dựng thêm bộ tiêu chuẩn về quan trắc và xác định các chỉ tiêu đánh giá chất lượng khoan nổ mìn.
Để sản xuất bền vững, cần đẩy mạnh hơn nữa công tác kiểm tra an toàn theo quy định và mạnh dạn đình chỉ những hoạt động khai thác đá không đảm bảo yêu cầu an toàn; đặc biệt là khi có sai phạm về trình độ nhân lực, về quy cách tầng khai thác, về bảo quản, vận chuyển và sử dụng vật liệu nổ công nghiệp.
- Sờn chí trước khó khăn, khó khăn ngăn ý đồ tiến bộ.
- Dốc lòng vì nghề nghiệp, nghề nghiệp tiếp năng lực thăng hoa.
- Người thợ giỏi, luôn nổi trội chống rủi ro.
- Chỉ huy tài, chẳng nguôi ngoai phòng tai nạn.