Hoạt động đầu tư của ngành Công Thương là một trong những nội dung quan trọng được lãnh đạo Bộ Công Thương ngày nay cũng như lãnh đạo các Bộ Công nghiệp và Thương mại trước đây đặc biệt quan tâm, bởi nếu không có đầu tư sẽ không có thêm năng lực sản xuất mới đóng góp cho tăng trưởng cao; công nghệ sản xuất, chất lượng sản phẩm sẽ không được cải thiện; năng lực cạnh tranh của sản phẩm, của doanh nghiệp, của Ngành, của quốc gia sẽ không được nâng cao. Chính vì lẽ đó, trong chiến lược phát triển đến năm 2020 cũng như trong kế hoạch phát triển 5 năm 2006- 2010 của ngành Công Thương, lĩnh vực đầu tư đã được xác định cụ thể như sau: ”Chú trọng đầu tư công nghiệp năng lượng, công nghiệp sản xuất vật liệu, công nghiệp có công nghệ cao, tiết kiệm năng lượng, công nghiệp điện tử, tin học, công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, công nghiệp phục vụ nông nghiệp nông thôn... Tích cực triển khai các dự án quan trọng quốc gia, các dự án trọng điểm của từng ngành theo đúng tiến độ phê duyệt”.
Mục tiêu đầu tư đối với một số ngành chủ yếu cũng đã được xác định cụ thể như sau:
Ngành Điện cần tập trung đầu tư phát triển nguồn điện với cơ cấu hợp lý, an toàn, hiệu quả và đồng bộ với hệ thống lưới truyền tải, lưới phân phối, trong đó đặc biệt ưu tiên vốn cho công trình Thủy điện Sơn La.
Ngành Dầu khí đẩy mạnh tiến độ xây dựng và đưa Nhà máy Lọc dầu Dung Quất đi vào vận hành cuối năm 2008 và sản xuất năm 2009; Đầu tư phát triển khí, phát triển bổ sung các mỏ dầu khí hiện đang khai thác để duy trì và tận dụng khả năng khai thác của mỗi mỏ; tiếp tục phát triển các tuyến đường ống dẫn khí ngoài khơi cũng như trên đất liền.
Ngành Than tiếp tục đầu tư cải tạo, mở rộng kết hợp đầu tư mới các mỏ hầm lò và lộ thiên, các cơ sở sàng tuyển, đầu tư trang thiết bị khai thác, vận chuyển, bốc xúc, kho cảng... để tăng năng lực khai thác và tiêu thụ; bố trí sản xuất than hợp lý giữa cung và cầu, giữa khai thác lộ thiên và hầm lò (đẩy nhanh sản lượng khai thác hầm lò để tăng tỷ trọng lên trên 50%).
Ngành Thép tập trung vào những công trình trọng điểm như cải tạo, mở rộng giai đoạn II Công ty Gang thép Thái Nguyên, nâng công suất lên 500 ngàn tấn phôi/năm; Mở rộng Nhà máy Thép cán nguội Phú Mỹ, nâng công suất lên 600 ngàn tấn/năm; Đầu tư nhà máy sản xuất băng cuộn cán nóng công suất 1,5 triệu tấn/năm (liên doanh); triển khai xây dựng Nhà máy Thép liên hợp Thạch Khê quy mô lớn, công suất 4,5 triệu tấn/năm - giai đoạn 1, kêu gọi đầu tư nước ngoài; Nhà máy thép không gỉ 100% vốn nước ngoài do Quian Ding International Ltd. đầu tư tại Bà Rịa Vũng Tàu, công suất 720.000 tấn/năm; Nhà máy Thép Lào Cai giai đoạn 1 liên doanh, công suất 1,5 triệu tấn quặng sắt/năm, 250 ngàn tấn gang lò cao/năm; Và một số dự án sản xuất thép khác do nước ngoài đầu tư 100% vốn, như của Tycoon Woldwide, Sun Steel... nếu được Nhà nước cho phép.
Cho đến nay, sau gần 3 năm thực hiện kế hoạch đầu tư 5 năm 2006-2010, kết quả thực hiện có thể tổng quát như sau:
- Hầu hết các dự án nằm trong chiến lược phát triển ngành cũng như trong KH 5 năm 2006-2010 đã lần lượt được triển khai, một số dự án đã hoàn thành đi vào hoạt động, góp phần nâng cao năng lực sản xuất của ngành.
- Kể từ cuối năm 2007, do tình hình kinh tế thế giới có nhiều biến động, giá cả hầu hết các loại vật tư, thiết bị, nhất là giá dầu thô, giá vàng... tăng cao và đang tạo nên mặt bằng giá mới, nên đã tác động không nhỏ đến nền kinh tế nước ta nói chung và trong hoạt động đầu tư xây dựng nói riêng. Do đó, nhiều công trình, hạng mục công trình đã bị chậm tiến độ, phải đình hoãn hoặc giãn tiến độ.
- Các nguồn vốn huy động cho đầu tư gặp khó khăn, lãi suất vay tăng dần, danh mục dự án được vay ưu đãi bị cắt giảm, cơ chế xử lý các biến động giá chậm được xác định, nên tình hình đầu tư trong 6 tháng đầu năm 2008 bị chững lại, ảnh hưởng tới tiến độ hoàn thành một số dự án nằm trong mục tiêu của KH 5 năm.
- Tổng vốn đầu tư thực hiện trong gần 3 năm 2006-2008 ước đạt 298 nghìn tỷ đồng, chiếm 58,2% tổng nhu cầu trong cả 5 năm, lần lượt là 85 nghìn tỷ đồng (năm 2006), 96 nghìn tỷ đồng (năm 2007) và năm 2008 ước khoảng 117 nghìn tỷ đồng.
Trong gần 3 năm qua cũng đã hoàn thành đưa vào sử dụng một số công trình và hạng mục công trình, nổi bật nhất là các dự án ngành Điện như: 2 tổ máy Nhà máy Thủy điện Sê San 3 (2x130 MW), tổ máy 1 và 2 Nhà máy TĐ Tuyên Quang (2x114); tổ máy 1 TĐ Đại Ninh (150 MW); tổ máy 1 (150MW) Nhà máy Nhơn Trạch 1; tổ máy 1 và 2 Nhà máy Điện Cà Mau 1 (750 MW), Nhà máy Cà Mau 2 (750 MW); Nhà máy Nhiệt điện Uông Bí 1 mở rộng (300 MW)... hoàn thành công trình tách lưới Hoà Bình để đảm bảo an toàn cho Hà Nội; đóng điện đường dây 220 kV mua điện của Trung Quốc tại Hà Giang với công suất 200 MW; lắp đặt máy biến áp thứ 2 trạm 220 kV Vĩnh Yên nhằm tăng lượng điện mua Trung Quốc qua Lào Cai; đóng điện dường dây 220 kV Tuyên Quang - Sóc Sơn và nhiều công trình trạm và lưới điện khác. Ngành Bia - Rượu - Nước giải khát đã đưa vào hoạt động Nhà máy Bia Sài Gòn tại Củ Chi, công suất 100 triệu lít/năm và một số nhà máy tại các địa phương; Ngoài ra, ngành Hoá chất cũng góp thêm một số dự án đã hoàn thành như phân bón NPK Long An công suất 600 ngàn tấn/năm, NPK Hiệp Phước công suất 310 ngàn tấn/năm...
Dự kiến đến hết năm 2008, riêng EVN sẽ đưa vào vận hành thêm tổ máy 3 Nhà máy Thủy điện Tuyên Quang 114 MW, PleiKrong tổ 1 và 2 (100 MW), Đại Ninh (300 MW), Sông Ba Hạ (220 MW), Buôn Kuốp tổ máy 1 (90 MW) và tổ máy số 1 Nhiệt điện Hải Phòng (300 MW). Bên cạnh đó, còn có thêm 3 nhà máy điện khác với tổng công suất 1.300 MW do EVN hợp tác cùng với các doanh nghiệp khác đầu tư cũng được đưa vào hoạt động. Một số dự án thuộc các ngành khác cũng sẽ được hoàn thành đưa vào khai thác trong năm 2008 hoặc đầu năm 2009, như dự án DAP Hải Phòng 330 ngàn tấn/năm; dự án Tổ hợp đồng Sin Quyền 10 nghìn tấn/năm; dự án bia Hà Nội tại Vĩnh Phúc 100 triệu lít/năm; bia Sài Gòn tại Củ Chi mở rộng lên 200 triệu lít/năm... Song nổi lên nhất phải kể đến là việc sẽ hoàn thành dự án Nhà máy Lọc dầu Dung Quất công suất 6,5 triệu tấn/năm vào cuối năm 2008, khai thác thương mại vào tháng 2/2009, một dự án quan trọng quốc gia với số vốn trên 2,5 tỷ USD và thời gian thực hiện hơn 11 năm kể từ tháng 7/1997, khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quyết định đầu tư.
Ngoài ra, còn nhiều dự án trong kế hoạch 2006-2010 đã được khởi công và đang tiếp tục thực hiện như các dự án Thủy điện Sơn La, mở rộng giai đoạn II Công ty Gang thép Thái Nguyên nâng công suất lên 500 ngàn tấn phôi/năm; Dự án khai thác mỏ sắt Thạch Khê; Mở rộng Nhà máy Thép cán nguội Phú Mỹ, nâng công suất lên 600 ngàn tấn/năm; triển khai xây dựng Nhà máy Thép liên hợp Thạch Khê quy mô lớn, công suất 4,5 triệu tấn/năm, trong đó có dự án Nhà máy sản xuất phôi thép 2 triệu tấn/năm; Xây dựng mỏ sắt Quý Sa và Nhà máy Thép Lào Cai liên doanh công suất 3 triệu tấn quặng sắt/năm, 1 triệu tấn gang lò cao/năm; Nhà máy thép liên hợp 100% vốn nước ngoài do Tập đoàn Formosa (Đài Loan) đầu tư tại Khu kinh tế Vũng Áng với công suất giai đoạn 1 là 7,5 triệu tấn/năm; Dự án Nhà máy Nhiệt điện Cẩm Phả; Dự án Nhà máy Điện Nông Sơn; Dự án Tổ hợp bauxit nhôm Lâm Đồng (công suất ban đầu 600 ngàn tấn alumin/năm), Dự án Alumin Nhân Cơ (công suất 600 ngàn tấn alumin/năm)...
Ngành Dầu khí đã tập trung đầu tư công tác thăm dò, gia tăng trữ lượng xác minh làm cơ sở để phát triển và khai thác bổ sung các mỏ dầu khí mới nhằm tăng sản lượng khai thác trong bối cảnh giá dầu thô và khí tự nhiên liên tục tăng trong 3 năm qua; tiếp tục phát triển các tuyến đường ống dẫn khí ngoài khơi và trên đất liền để cung cấp khí cho nhu cầu phát điện và phát triển các khu công nghiệp của các địa phương...
Như vậy, dự kiến tới hết năm 2008, trong 3 năm 2006-2008, tổng công suất các sản phẩm của Ngành sẽ tăng thêm là: về nguồn điện vào khoảng 3500 MW; chế biến dầu thô 6,5 triệu tấn; bia 300 triệu lít; phân DAP 330 nghìn tấn, với tổng giá trị sản xuất ước tính khi khai thác hết công suất là 200 nghìn tỷ đồng. Kết quả này đã góp phần làm cho giá trị sản xuất công nghiệp của toàn Ngành hàng năm tăng thêm khoảng 100 nghìn tỷ đồng (năm 2006 đạt 487 nghìn tỷ đồng, năm 2007 đạt 571 nghìn tỷ đồng và năm 2008 ước đạt 674 nghìn tỷ đồng).
Đây là kết quả của sự chỉ đạo và tạo điều kiện của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, sự ủng hộ của các cấp các ngành, các địa phương, sự chia sẻ của những người dân nông thôn giành đất cho dự án, và cũng là kết quả của sự phấn đấu không mệt mỏi của đội ngũ những người lao động ngành Xây dựng và Công nghiệp, đã vượt qua muôn vàn khó khăn để đưa công trình sớm vào hoạt động, đóng góp sản phẩm cho nền kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân.
Tuy nhiên, có thể thấy rằng, phần lớn các dự án đầu tư trong 3 năm vừa qua đã trải qua thời kỳ khó khăn do biến động giá cả của thị trường, một số do ảnh hưởng của thời tiết, mưa lũ (nhất là các dự án thủy điện), do sự thay đổi trong cơ chế quản lý, nên tiến độ bị chậm so với phê duyệt.
Sau đây xin nêu lên những khó khăn và nguyên nhân chủ yếu như sau:
- Giá cả vật tư đầu vào biến động tăng thường xuyên, đặc biệt là giá sắt thép, xi măng, vật liệu xây dựng khác, nhất là từ cuối năm 2007 tới nay đã làm cho chi phí đầu tư tăng cao, vượt qua sự tính toán ban đầu của các cơ quan quản lý nhà nước và các chủ đầu tư, nên phải mất rất nhiều thời gian trong các khâu điều chỉnh dự toán, thanh toán, quyết toán... làm cho tiến độ bị chậm.
- Một số dự án, nhất là các dự án thuộc ngành Điện, dự án Xi măng Thái Nguyên, Mỏ Sắt Quý Xa - Lao Cai, Nhà máy Bia Vĩnh Phúc... gặp khó khăn trong công tác đền bù giải phóng mặt bằng, di dân tái định cư, mà nguyên nhân là sự hợp tác giữa chủ đầu tư và chính quyền địa phương chưa chặt chẽ, cơ chế đền bù có nơi chưa rõ ràng, mức đền bù thường không được bà con chấp nhận... nên phải mất nhiều thời gian thỏa thuận. Một số dự án liên quan tới khai thác khoáng sản thì phải mất nhiều thời gian trong khâu xin phép khai thác mỏ.
- Đa số dự án triển khai trong giai đoạn này là những dự án có quy mô và nhu cầu vốn lớn, trong đó chủ yếu là vay tín dụng và tín dụng ưu đãi, song lại thường gặp khó khăn trong thu xếp vốn, có ngân hàng thương mại không thực hiện cam kết sau khi dự án được phê duyệt, làm chậm tiến độ triển khai tiêu biểu như một số dự án ngành Điện (mới đây có sự can thiệp của Chính phủ mới vay được); Nhà máy sản xuất đạm từ than cám tại Ninh Bình, dự án mở rộng Gang thép Thái Nguyên giai đoạn 2... Một số công trình có vốn, nhưng triển khai thi công, giải ngân chậm như: Xi măng Thái Nguyên, Đồng Sin Quyền, DAP Hải Phòng....
- Nhân lực và thiết bị thi công của một số nhà thầu chưa đáp ứng yêu cầu. Ở những dự án thực hiện theo hình thức tổng thầu EPC thì tổng thầu thường đồng thời tham gia thi công nhiều dự án, nên lực lượng bị dàn trải, năng lực tài chính hạn chế, công tác giải ngân thường bị chậm và giá cả thị trường biến động không kiểm soát được; thêm nữa một số tổng thầu không phát huy được vai trò trong việc phối hợp với các nhà thầu trong tổ hợp, không kịp thời hỗ trợ, thay thế nhà thầu phụ khi các nhà thầu này tỏ ra thiếu năng lực. Bên cạnh đó, tiến độ thi công thường gấp, nên chi phí cho các giải pháp kỹ thuật tăng so với yêu cầu thông thường. Cùng với những khó khăn trên, công tác thiết kế của các dự án không được đồng bộ, chính xác ngay từ đầu, nên trong quá trình thực hiện phải hiệu chỉnh, phê duyệt lại... gây lãng phí thời gian.
- Năng lực của một số đơn vị tư vấn còn nhiều hạn chế, nhất là khả năng tiếp cận, nắm bắt và làm chủ các công nghệ, kỹ thuật mới cũng như trong hoạt động khảo sát, tư vấn, thiết kế... dẫn đến phải thay đổi thiết kế, dự toán công trình nhiều lần làm tiến độ thi công bị kéo dài, một số trường hợp gây lãng phí (Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, Thủy điện Sê San 3, Dự án di chuyển và đầu tư chiều sâu nâng cao năng lực sản xuất - Công ty Cơ khí Duyên Hải, dự án Văn phòng thương mại - Công ty MECANIMEX, dự án Giấy Thanh Hóa...).
- Do thiếu tập trung chỉ đạo, nên trong chuẩn bị đầu tư, công tác thiết kế và phê duyệt thiết kế chậm, thanh toán khối lượng hoàn thành cho nhà thầu chưa kịp thời, thiếu lực lượng thi công và thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên trên công trường, thiết bị công nghệ cấp chậm và không đồng bộ.
- Các chủ đầu tư được phân cấp thực hiện dự án, nhưng thiếu tính chủ động trong công tác triển khai, điều hành dự án. Lãnh đạo nhiều doanh nghiệp chưa ý thức được thẩm quyền, trách nhiệm của mình trong công tác đầu tư xây dựng công trình của đơn vị; một số ban quản lý dự án còn lúng túng về cách giải quyết và chỉ đạo thực hiện đầu tư khi có các quy định mới của Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước.
- Năng lực cán bộ thực thi của chủ đầu tư và ban QLDA còn hạn chế (không cập nhật kiến thức về đầu tư-xây dựng và các quy định hiện hành), nên đã thực hiện không đúng quy định của Nhà nước. Một số dự án thuộc các tập đoàn chậm trong khâu xử lý giải quyết các đề nghị của các chủ đầu tư thành viên, do thiếu sự phối hợp giữa các ban trong tập đoàn.
- Nhiều văn bản quy định trong đầu tư xây dựng còn chồng chéo, hiện tượng "vừa làm, vừa dò, vừa gỡ, vừa đề nghị" là tình trạng chung của các doanh nghiệp sử dụng vốn ngân sách, hay nguồn vốn tín dụng nhà nước... cũng là một trong những nguyên nhân làm chậm tiến độ dự án đầu tư hiện nay.
Để tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ các dự án trong những tháng còn lại của năm 2008, đề nghị Chính phủ và các cơ quan hữu quan sớm giải quyết một số vấn đề sau:
- Đề nghị Chính phủ chỉ đạo Bộ Tài chính, hệ thống Ngân hàng tập trung tháo gỡ khó khăn về nguồn vốn cho các dự án đầu tư công nghiệp; chỉ đạo các Bộ Tài nguyên, Môi trường, Xây dựng, Kế hoạch và Đầu tư rà soát, trình Chính phủ sửa đổi các Nghị định và các văn bản hướng dẫn về đầu tư xây dựng và đấu thầu theo hướng thông thoáng, đơn giản thủ tục, giúp đẩy nhanh tiến độ chuẩn bị và thực hiện đầu tư; chỉ đạo các địa phương tăng cường phối hợp và quyết liệt hơn nữa trong việc giải phóng mặt bằng, di dân taái định cư các công trình công nghiệp trọng điểm.
- Đề nghị Bộ Tài chính cho phép các dự án đầu tư phát triển vùng nguyên liệu giấy (thuộc nhóm A) được vay 70% tổng mức đầu tư và được trả lãi và vốn gốc vào cuối chu kỳ kinh doanh; Đối với các hợp đồng chế tạo thiết bị cơ khí thuỷ công, thông qua hình thức đấu thầu cho phép, nhà thầu được tạm ứng 30-40% tổng giá trị hợp đồng tạm tính và thanh toán 100% giá trị vật tư thiết bị nhập khẩu.
- Đề nghị Ngân hàng nhà nước chỉ đạo các ngân hàng thương mại cho các dự án vay vốn theo các hợp đồng tín dụng đã cam kết. Đề nghị trình Chính phủ chỉ đạo các ngân hàng thương mại tiếp tục cho vay vượt 15% vốn tự có đối với các dự án điện của EVN;
- Đề nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư sớm trình Chính phủ hướng bổ sung nguồn vốn cho các dự án đầu tư sau khi sắp xếp lại và điều chỉnh dự toán theo Thông tư 09 của Bộ Xây dựng và chỉ đạo của Chính phủ.