Cung cấp bởi  
Thứ Bẩy, 19/01/2008 - 4:03 PM  

Thị trường EU

 

 

Liên minh châu Âu (tiếng Anh là: The European Union, viết tắt là EU),  có trụ sở tại Brúc-xen (Thủ đô của Bỉ). Trư­ớc 1/11/1993 gọi là Cộng đồng châu Âu (The European Communities).

- Diện tích : 4.000.000 km2, dân số:  500 triệu ng­ười

- Năm 2005: GDP: 12.18 tỷ USD;  

                     GDP/đầu ngư­ời: 28.100 USD

  

Quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam - EU trong những năm gần đây:

Hiện tại, EU là nhà cung cấp ODA lớn thứ ba cho Việt Nam (sau Nhật Bản và Ngân hàng Thế giới). EU đứng đầu các nhà tài trợ về viện trợ không hoàn lại. Mặc dù các nư­ớc EU đều có xu h­ướng chung là giảm viện trợ n­ước ngoài, như­ng hầu hết vẫn tiếp tục xếp Việt Nam vào diện ư­u tiên hoặc tăng vốn ODA. Năm 2005, tổng số ODA của toàn bộ EU dành cho Việt Nam là 720 triệu Euro, trong đó 410 triệu Euro là viện trợ không hoàn lại. Cam kết ODA của EU cho Việt Nam trong năm 2006 là 800 triệu Euro.

Về th­ương mại:   EU là đối tác thư­ơng mại lớn nhất của Việt Nam, chiếm 17% tổng giao dịch thư­ơng mại (sau đó là Mỹ: 14%; Nhật Bản: 13%; và Trung Quốc: 11%).

Năm 2005, trao đổi th­ương mại hai chiều giữa Việt Nam và EU đạt khoảng 8,2 tỉ USD. EU tiếp tục là đối tác th­ ương mại lớn nhất của Việt Nam. Các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang EU là giầy dép, may mặc, cà phê, đồ nội thất, và thủy sản.

EU và Việt Nam tiếp tục triển khai cụ thể hóa Hiệp định về tiếp cận thị trường song ph­ương đư­ợc ký tại Brúc-xen (31/3/2005).  EU đã đình chỉ, tiến tới xóa bỏ hạn ngạch dệt- may đối với Việt Nam kể từ ngày 1/1/2005. Đổi lại, Việt Nam cũng cắt giảm thuế và tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu t­ư EU trong các lĩnh vực nh­ư cung cấp dịch vụ, môi trư­ờng, bảo hiểm nhân thọ, hàng hải, xây dựng.

Về đầu t­ư: Tính đến hết năm 2004, tổng vốn đầu t­ư đăng ký của các n­ước EU vào Việt Nam đã đạt 6,9 tỉ USD với 473 dự án, chiếm 9,04% tổng vốn FDI đã đ­ược cấp phép, đứng đầu danh sách các nư­ớc và vùng lãnh thổ có vốn đầu t­ư trực tiếp tại Việt Nam.

Tính đến hết 31/12/2005,  EU có 501 dự  án đầu t­ư vào Việt Nam với tổng số vốn khoảng 7 tỉ USD. Đầu tư­ của các nư­ớc EU đã có mặt ở 33 địa phư­ơng, nhiều công ty lớn của châu Âu trong nhiều lĩnh vực chủ chốt đã có mặt tại Việt Nam, cụ thể: Dầu khí: BP (Vư­ơng quốc Anh), Shell Group (Hà Lan - Anh), Total Elf Fina (Pháp); - Bư­u chính viễn thông: Siemens (Đức), France Telecom, Alcatel (Pháp), Comvik (Thụy Điển);  Sản xuất hàng tiêu dùng và thực phẩm: Unilever (Hà Lan - Anh), Electrolux (Thụy Điển);  Hóa chất, phân bón: Akzo Nobel (Thụy Điển); - D­ược phẩm: Bayer AG (Đức),...

Chính sách ­ưu đãi thuế quan mới của EU: Ngày 27/6/2005, Hội đồng Châu Âu đã thông qua các quy định mới về hệ thống ­ưu đãi thuế quan (GSP). GSP mới sẽ có hiệu lực trong 3 năm từ 1/1/2006 đến 31/12/2008. Theo đó, hàng hóa của Việt Nam tiếp tục đ­ược h­ưởng GSP nh­ư tr­ước và không có mặt hàng nào, kể cả giầy dép, bị đ­ưa ra khỏi danh sách đ­ược h­ưởng GSP mới.

Về việc Việt Nam gia nhập WTO: EU đã quyết định dỡ bỏ hạn ngạch hàng dệt-may cho Việt Nam kể từ ngày 1/1/2005 . Đây là những b­ước tiến mang tính chất đột phá, có tác động tích cực đến đàm phán song ph­ương của Việt Nam với các đối tác khác, đặc biệt, Việt Nam trong quá trình hòa nhập một cách đầy đủ vào cộng đồng th­ương mại quốc tế.

 

Hệ thống thuế của các nư­­ớc EU:

Các nước thuộc Liên minh châu Âu áp dụng hệ thống thuế quan chung của EU. Biểu thuế quan được xây dựng trên cơ sở hệ thống hài hoà (HS - Harmonized sytem - Hệ thống hài hoà trong mô tả và mã hàng hoá).

Chế độ thuế quan chung (CCT) được áp dụng cho tất cả các nước thành viên EU. Thuế suất phụ thuộc vào loại hàng và xuất xứ của hàng hoá nhập khẩu, được xây dựng trên nguyên tắc: Những mặt hàng trong nước chưa sản xuất được, hoặc sản xuất không đủ, hoặc cần thiết để phát triển những ngành sản xuất trong nước thì sẽ được miễn thuế hoặc hưởng thuế suất thấp; Ngược lại, những mặt hàng trong nước đã sản xuất đủ hay để khuyến khích trong nước tự sản xuất thì sẽ phải chịu thuế suất cao. Theo nguyên tắc này, hầu hết các nguyên liệu nhập vào EU được miễn thuế nhập khẩu hoặc chịu thuế suất thấp, còn các mặt hàng nông sản thực phẩm phải chịu mức thuế cao hoặc thuế đặc biệt. Cụ thể, các mặt hàng thịt, sản phẩm sữa, ngũ cốc, rau hoa quả chế biến và không chế biến chịu mức thuế cao nhất từ  0% đến 470,8%; Đối với hàng không phải nông sản, có mức thuế từ 0% đến 36,6%.  Để tăng sức cạnh tranh của hàng hoá và đẩy mạnh xuất khẩu, bên cạnh việc miễn thuế hoặc đánh thuế thấp, đối với các nguyên, phụ liệu, bán thành phẩm nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu, EU còn cho phép được “treo thuế ”, nghĩa là khi nhập nguyên liệu chỉ tính thuế chứ chưa phải đóng thuế, khi xuất hàng trở ra, sẽ tính toán bù trừ và doanh nghiệp chỉ phải đóng thuế phần nguyên liệu không dùng để làm hàng xuất khẩu. Ngoài chính sách thuế để phát triển các mặt hàng, EU còn có chính sách thuế ưu đãi để phát triển một số ngành, hiện nay là ngành công nghệ thông tin và ngành dược là những ngành được quan tâm. Về hàng hoá: Biểu thuế quan của EU có các mức thuế khác nhau: Nhóm thứ nhất áp dụng đối với nhập khẩu từ các nước có thực hiện quy chế tối huệ quốc (MFN); Nhóm thứ hai là thuế quan ưu đãi, áp dụng đối với hàng nhập khẩu từ các nước đang phát triển, được hưởng đơn thuần ưu đãi GSP của EU; Nhóm thứ ba, được gọi là thuế quan đặc biệt, thực hiện đối với hàng nhập khẩu từ các nước đang phát triển được hưởng ưu đãi GSP kèm với những ưu đãi theo các hiệp định song phương.

GSP là chế độ tối huệ quốc đặc biệt của các nước công nghiệp phát triển dành cho các nước đang và chậm phát triển. Bản chất của chế độ GSP là các nước công nghiệp phát triển sẽ áp dụng chế độ miễn thuế hoặc thuế rất thấp cho hàng hoá của các nước đang phát triển, nhằm giúp hàng hoá của các nước này có điều kiện thâm nhập được vào thị trường các nước phát triển. Để được hưởng GSP thì phải đạt các điều kiện: phải là nước chậm và đang phát triển  (EU quy định phải có thu nhập bình quân đầu người ? 6.000 USD/ năm) và hàng hoá phải đạt được 3 điều kiện cơ bản: Xuất xứ từ nước được hưởng; Về vận tải; Về giấy chứng nhận xuất xứ.

 

Thuế giá trị gia tăng  (VAT)

VAT được áp dụng cho tất cả các loại hàng hoá được bán ở EU. Nhìn chung mức thuế VAT thấp đối với các mặt hàng thiết yếu và mức thuế cao được áp dụng cho các mặt hàng xa xỉ . VAT được xác định bằng tỉ lệ phần trăm trên giá CIF. Hiện nay, mức thuế VAT ở các nước khác nhau đều khác nhau .

Thuế tiêu thụ đặc biệt

Loại thuế này áp dụng đối với một số loại sản phẩm phụ thuộc vào ảnh hưởng của nó đối với công dân của EU. Thuế được áp dụng cho cả sản phẩm nội địa và nhập khẩu. Thuế tiêu thụ đặc biệt đánh vào một số loại hàng hoá như: nước giải khát có cồn và không có cồn, bia, rượu, rượu mạnh, thuốc lá và các sản phẩm thuốc lá. Ngoài ra, ở một số nước EU, loại thuế này còn đánh vào các hàng hóa như: Đường, dầu thực vật và các sản phẩm dầu dưới hình thức như một loại “thuế xanh” để gây quỹ thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường.. Đối với hàng nhập khẩu, ngoài thuế quan và thuế giá trị gia tăng, còn có thuế tiêu thụ đặc biệt do nhà nhập khẩu trả. Cũng như VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với cùng một loại sản phẩm ở các nước EU khác nhau thì sẽ có mức thuế khác nhau.

 

Giấy chứng nhận xuất xứ:  EU yêu cầu hàng hoá muốn được hưởng GSP thì cần có giấy chứng nhận xuất xứ  form A. Khi đạt đủ các tiêu chuẩn như trên thì hàng nhập khẩu vào EU sẽ được hưởng ưu đãi theo chế độ GSP, nhưng không phải với loại sản phẩm nào cũng được hưởng một mức thuế như nhau, mà phụ thuộc vào tính cạnh tranh của từng loại sản phẩm đó. Cụ thể, chế độ GSP hiện hành chia thành 4 loại sản phẩm với 4 mức thuế ưu đãi khác nhau: loại sản phẩm có độ nhạy cảm cao thì mức thuế ưu đãi bằng 85% so với thuế quan chung (CCT), tiếp theo là loại sản phẩm nhạy cảm có mức thuế ưu đãi bằng 70% mức thuế CCT, thứ ba là loại sản phẩm nhạy cảm chịu mức thuế bằng 30% mức thuế CCT và cuối cùng là loại không nhạy cảm được miễn thuế hoàn toàn (0%). EU thường xuyên điều chỉnh hệ thống thuế quan chung (CCT) như một công cụ hữu hiệu để quản lý hoạt động ngoại thương, do đó các doanh nghiệp phải thường xuyên theo dõi để đáp ứng những yêu cầu cần thiết và được hưởng lợi. Hàng năm Uỷ ban châu Âu sẽ đăng trên công báo của Liên minh về biểu thuế quan hưởng theo Tối huệ quốc (MFN) đối với tất cả danh mục hàng hoá nhập khẩu vào EU.

Những thay đổi trong hệ thống thuế quan chung của EU phù hợp với những quy định trong khuôn khổ WTO. EU đã tham gia 8 Hiệp định thuế quan của WTO. Theo Hiệp định chung về thuế quan và thương mại của WTO, EU đã có những bước cắt giảm thuế đáng kể. Hiệp định đa phương gần đây nhất là “vòng đàm phán Uruguay” tập trung vào việc miễn, giảm thuế cho các sản phẩm công nghệ thông tin, một trong những ngành mũi nhọn của thương mại quốc tế.

 

Các qui định về xuất xứ.

Về xuất xứ từ nước được hưởng, EU quy định có 2 loại:

a/ Đối với sản phẩm hoàn toàn được sản xuất tại lãnh thổ nước được hưởng ưu đãi như: khoáng sản, động thực vật, thuỷ sản đánh bắt trong lãnh hải và hàng hoá sản xuất từ sản phẩm đó được xem là có xuất xứ và được hưởng ưu đãi GSP.

b/ Đối với các sản phẩm có thành phần nhập khẩu: EU quy định hàm lượng trị giá sản phẩm sáng tạo tại nước hưởng GSP (tính theo giá xuất xưởng) phải đạt  60% tổng giá trị hàng liên quan. Tuy nhiên, đối với một số nhóm mặt hàng, thì hàm lượng này thấp hơn. EU quy định cụ thể tỉ lệ trị giá và công đoạn gia công đối với một số nhóm hàng mà yêu cầu phần trị giá sáng tạo thấp hơn 60% (điều hoà nhiệt độ, tủ lạnh không dưới 40%; đồ trang trí làm từ kim loại không dưới 30%; giầy dép chỉ được hưởng GSP nếu các bộ phận như: mũi giầy, đế giầy...ở dạng rời có xuất xứ từ một nước thứ ba cũng được hưởng GSP hoặc nhập khẩu..)

EU cũng quy định xuất xứ cộng gộp, theo đó hàng của một nước có thành phần xuất xứ từ một nước khác trong cùng một tổ chức khu vực cũng được hưởng GSP, thì các thành phần đó cũng được xem là có xuất xứ từ nước liên quan.

 

Các qui định của EU về điều kiện gửi hàng.

Về điều kiện vận tải (hay điều kiện gửi hàng),  EU yêu cầu hàng hoá phải được gửi thẳng từ nước được hưởng đến nước cho hưởng. Quy định này nhằm đảm bảo hàng hoá không bị gia công tái chế thêm trong quá trình vận chuyển. Điều kiện gửi hàng phải thoả mãn 2 điều kiện: Hàng hoá vận chuyển không qua lãnh thổ của một nước thứ ba nào khác; Nếu hàng hoá vận chuyển qua một nước thứ ba thì phải được đảm bảo rằng: hàng hoá chịu sự kiểm soát của nước thứ ba đó và không qua bất kỳ quá trình gia công tái chế hay mua đi bán lại nào tại nước thứ ba đó.

 

Quy định của EU đối với nhà sản xuất khi xuất khẩu hàng sang thị trường này?

EU quy định tiêu chuẩn sức khỏe và an toàn: Dấu CE hay “CE mark” là giấy thông hành để bước vào thị trường EU đối với các sản phẩm sản xuất ngoài khu vực này. Mục tiêu của dấu CE là áp đặt một quy định chung với nhà sản xuất, chỉ cho phép sản phẩm an toàn mới vào được thị trường EU. Việc dán nhãn CE là bắt buộc đối với 23 nhóm mặt hàng, trong đó có các mặt hàng như: đồ chơi, các thiết bị sử dụng điện thế thấp, các thiết bị an toàn, vật liệu xây dựng, thiết bị y tế. Tuy nhiên, nhãn hiệu CE không có hiệu lực đối với các mặt hàng: đồ gỗ nội thất, đồ trang trí, sản phẩm da...

Ngoài ra, EU còn đề ra phương pháp quản lý chất lượng tổng thể (TQM): TQM được coi là tầm nhìn chiến lược có tính thống nhất và hội tụ về cải tiến hoạt động một cách liên tục trong mọi loại hình tổ chức và tác động. Việc thực hiện cam kết liên tục nâng cao hiệu quả và chất lượng, giúp doanh nghiệp Việt Nam có thể biến tầm nhìn và nhiệm vụ trở thành một chiến lược tiếp thị rộng khắp. Những khía cạnh căn bản của TQM mà các doanh nghiệp Việt Nam cần quan tâm đến bao gồm: Người quản lý và các nhân viên phải cam kết liên tục cải tiến hoạt động; Xây dựng tiêu chí đánh giá hoạt động trong việc thoả mãn khách hàng và nhận diện việc không tuân thủ; Liên tục đánh giá về tổ chức và quy trình thủ tục liên quan đến tiêu chuẩn chất lượng và mục đích; Liên tục đánh giá nhà cung cấp... Việc thực hiện TQM là phương pháp đầu tiên để doanh nghiệp đạt hiệu quả kinh tế cao hơn trong hoạt động so với đối thủ cạnh tranh của mình. Các doanh nghiệp phải tự xây dựng các mục tiêu và chiến lược để tuân thủ các tiêu chuẩn trên thị trường. Điều đó có nghĩa là, phải đáp ứng được yêu cầu trong lĩnh vực trách nhiệm sản phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn về sức khoẻ và an toàn cho người tiêu dùng, thông qua việc in nhãn hiệu CE hay thực hiện HACCP. TQM buộc các doanh nghiệp phải xác định vị trí của mình dựa trên trách nhiệm và mục tiêu (quy tắc ứng xử trong xã hội).

 

Một số quy định hải quan của EU đối với hoạt động xuất, nhập khẩu:

Tự do lưu thông: Hàng hóa nhập khẩu vào EU được tự do lưu thông trên lãnh thổ 25 nước thành viên EU như hàng hóa được sản xuất tại EU sau khi đóng các khoản thuế nhập khẩu quy định.

Gia công tại EU: Cho phép hàng bán thành phẩm hoặc nguyên liệu thô được nhập vào EU để gia công và được các nhà sản xuất của EU tái xuất khẩu trong EU mà các nhà sản xuất không cần phải nộp thuế hải quan và VAT đối với hàng hóa đó. Có hai cách liên quan đến thuế là miễn thuế hoặc đóng thuế trước và được hoàn thuế.

Gia công dưới sự quản lý của hải quan: Nghĩa là hàng hóa được gia công phải chịu mức thuế thấp hơn trước khi đưa vào tự do lưu thông. Mức thuế nhập khẩu chệnh lệch sẽ dành cho việc bảo tồn hoặc thêm mới các hoạt động gia công tại cộng đồng.

Kho hải quan: Kho hải quan cho phép doanh nghiệp giữ hàng nhập khẩu tại cộng đồng và lựa chọn thời gian đóng thuế hoặc tái xuất hàng hóa.

Khu vực tự do: Khu vực tự do là khu vực đặc biệt trên lãnh thổ hải quan EU. Hàng hóa trong khu vực này được miễn thuế nhập khẩu, thuế VAT và các loại thuế nhập khẩu khác. Hàng hóa nhập khẩu được lưu lại khu vực này được coi là chưa nhập khẩu vào cộng đồng, hàng hóa của cộng động lưu tại đây được coi là đã xuất khẩu.

Đối với hàng nhập khẩu, khu vực tự do đwocj dùng như là nơi lưu kho đối với hàng hóa không có nguồn gốc cộng đồng cho đến khi hàng hóa này được đưa vào tự do lưu thông.

Tạm nhập: Tạm nhập là hàng hóa có thể được sử dụng tại cộng đồng mà không phải nộp thuế nhập khẩu và thuế VAT theo một số điều kiện nhất định và phải tái xuất theo đúng tình trạng mà hàng hóa được nhập vào. Đối với loại này, EU cho phép sử dụng kê khai bằng lời (nghĩa là trả lời hải quan như trường hợp đối với hành lý xách tay). Tuy nhiên, hải quan có thể yêu cầu liệt kê danh sách hàng hóa để bổ sung cho việc khai bằng lời.

Hàng quá cảnh: Luật Hải quan EU cho phép yhàng hóa được quá cảnh qua lãnh thổ hải quan EU nếu đáp ứng các quy định về thủ tục quá cảnh: Các bảo lãnh riêng; Các phương tiện vậnh chuyển; Các bản khai theo quy định; Hoàn thành các thủ tục tại hải quan xuất phát, trên đường và tại điểm đến; Các thủ tục kiểm soát hàng xuất cảnh;

Doanh nghiệp cũng có thể sử dụng các thủ tục quá cảnh được đơn giản hóa gồm: Sử dụng giấy bảo lãnh toàn diện hoặc gia hạn bảo lãnh; Sử dụng danh sách vận chuyển đặc biệt; Miễn áp dụng các quy định để sử dụng lộ trình theo yêu cầu; Quy chế người gửi hàng ủy quyền;  Quy chế người nhận hàng ủy quyền; Các thủ tục đơn giản hóa áp dụng cho việc vận chuyển hàng bằng tầu hoặc các côngtennơ loại lớn; Các thủ tục đơn giản hóa áp dụng với hàng vận chuyển qua đường hàng không, hàng hải và qua ống dẫn…  

 

Giải pháp tăng xuất khẩu hàng hóa sang thị trường EU

Để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam sản xuất hàng hoá xuất khẩu đạt các tiêu chuẩn quốc tế, nhằm vượt qua những rào cản kỹ thuật của thị trường EU, các doanh nghiệp có thể lựa chọn hướng đầu tư đổi mới thiết bị, công nghệ, nhập khẩu công nghệ mới từ chính các nước EU và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm được công nhận của các nước EU. Đối với các mặt hàng mang tính thời trang như giầy, dép, dệt-may, các doanh nghiệp cũng cần chú trọng nâng cao năng lực thiết kế mẫu mã, kiểu dáng sản phẩm đáp ứng xu hướng biến đổi nhanh về thị hiếu của người tiêu dùng EU hơn là chú trọng yêu cầu đảm bảo giá thấp. Sự kiện EU áp thuế chống bán phá giá đối với mặt hàng giầy dép xuất khẩu của Việt Nam là một bài học khi sử dụng giá là vũ khí cạnh tranh.

Trong xu hướng chuyển giao công nghệ từ các nước phát triển sang các nước đang pháp triển và nhất là xu hướng gia tăng nhập khẩu các sản phẩm có hàm lượng chế biến cao của các nước EU, cơ cấu sản phẩm xuất khẩu của Việt  Nam cũng cần thay đổi phù hợp. Trong giai đoạn trước mắt, các doanh nghiệp cần tập trung đầu tư có hiệu quả vào một số ngành hàng xuất khẩu được EU xếp vào loại hàng “bán nhạy cảm” và “nhạy cảm” như các sản phẩm gỗ, thực phẩm chế biến, sản phẩm điện tử và linh kiện, các phần mềm tin học...

Việc tiếp cận hệ thống phân phối tại thị trường EU là một hướng pháp triển quan trọng trong hoạt động xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam vào thị trường này. Hiện nay, hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam qua các trung gian vẫn còn chiếm tỷ trọng lớn, ước tính có khoảng 10% đến 45% tổng giá trị một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam vào EU phải qua trung gian. Một trong những nguyên nhân chủ yếu là hầu hết các doanh nghiệp chưa tiếp cận hệ thống phân phối được hình thành lâu đời và chặt chẽ tại các nước EU. Để tăng cường khả năng tiếp cận thị trường EU, các doanh nghiệp có thể lựa chọn hướng tiếp cận thông qua hệ thống của các nhà phân phối lớn đã được hình thành trên thị trường này, hoặc từng bước xây dựng hệ thống phân phối trực tiếp của các doanh nghiệp Việt Nam. Sự kiện khánh thành “Nhà Việt” tại Đức vừa qua là một tín hiệu mừng đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Đây là hướng tiếp cận thị trường tích cực cần được pháp triển trong tương lai tại các nước châu Âu

  Bản in

Quay về Thông tin hội nhập ẩn >>

Các bài mới:

Các bài đã đăng:



Truyền hình công nghiệp
Thông tin tài khoản